Kỷ niệm 70 năm ngày thương binh - liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2017)

Những giọt nước mắt tháng 7

Ở hai đầu đường dây điện thoại, chúng tôi đã khóc, những lời nói nghẹn lại, những khoảng lặng đầy nhức nhối, đau buốt. Dù chúng tôi chưa từng quen biết, nhưng câu chuyện nhắc đến đã hòa chung cảm xúc của hai bác cháu. Đó là cảm xúc của một người lính nguyện suốt đời ở bên đồng đội dù âm dương cách trở và cảm xúc của thế hệ sau đầy cảm phục trước tinh thần hi sinh anh dũng của lớp lớp cha anh.

1."Cho cháu hỏi, bác có phải là bác Nguyễn Văn Hiền quản trang của Nghĩa trang liệt sỹ Sa Thầy, tỉnh Kon Tum không ạ?". Phía bên kia trả lời: "Đúng rồi! Sao cháu biết số điện thoại mà gọi?". Câu chuyện của tôi với ông bắt đầu như vậy đó. Rồi, ông nghe từng thông tin về người bác liệt sỹ mà gia đình tôi chưa tìm được mộ. Khi tôi nói đến đơn vị, nhắc tên Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 và thời gian người bác hy sinh là xuân Mậu Thân 1968, ông bỗng nghẹn lại, giọng lạc đi.

Ông vừa khóc, vừa kể lại trong ngắt quãng: "Đó là đơn vị anh hùng cháu ạ! Năm ấy đồng đội hi sinh nhiều lắm! Sau cuộc chiến đấu ở cao điểm Chư Tan Kra, đối phương gom nhiều thi thể các chiến sỹ của ta vào một hố chôn tập thể... Giờ nhiều người đã được đưa về đây (nghĩa trang liệt sỹ) nhưng chưa xác định được danh tính…".

Tiếng ông nhỏ dần. Tôi không còn nghe rõ giọng của người quản trang ấy, nước mắt cứ nhòe đi. Nhưng tôi thấy rõ là, ông đang nói giọng Bắc. Tôi hỏi: "Bác không phải người Kon Tum?". Ông bảo: "Tôi quê Thanh Hóa. Tôi cũng là đồng đội của các anh đang nằm đây. Tôi ở đây để chăm nom đồng đội". Một lần nữa, trái tim tôi tan chảy theo lời nói của ông. Hòa bình đã lâu lắm rồi, vậy mà cả đời ông vẫn sống trong cuộc chiến. Nước mắt người lính vẫn không ngừng rơi, trái tim người lính vẫn không ngừng đau khi quá khứ, hiện tại cứ đan xen. 

Để có cuộc nói chuyện với bác Hiền, trước đó tôi đã đi tìm đồng đội của bác tôi. May mắn vẫn còn có đồng đội cùng đơn vị, cùng chiến đấu với bác. Các đồng đội của bác kể rằng, họ là những chàng trai Hà Nội tuổi đôi mươi cùng xuất quân và được huấn luyện tinh nhuệ ở Thái Nguyên, mùng 6 Tết Mậu Thân 1968 chuyển quân đến Hòa Bình rồi đưa thẳng vào huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Đơn vị của bác tôi được mệnh danh là "biệt đội lính mũ sắt", là niềm tự hào của người dân Thủ đô.

Nhiều năm sau chiến tranh, đồng đội và người thân của các anh vẫn mỏi mắt đi tìm hài cốt liệt sỹ giữa rừng sâu núi thẳm.
Nhiều năm sau chiến tranh, đồng đội và người thân của các anh vẫn mỏi mắt đi tìm hài cốt liệt sỹ giữa rừng sâu núi thẳm.

Đồng đội của bác kể rằng, trước giờ lên cao điểm đánh đồn địch, họ đã cùng nhau ăn lương khô là gạo rang trộn muối và đường. Bác tôi còn cho đồng đội xem tấm ảnh chụp chung với cô người yêu xinh xắn cùng làng. Ngày bác lên đường nhập ngũ mới 17 tuổi và ra đi khi tròn 18. Thế rồi, sau trận chiến đầu đời, bác tôi mãi mãi nằm lại giữa núi rừng Chư Mom Ray. Ông bà ngoại tôi có 3 người con đi chiến đấu ở nhiều chiến trường, và ông bà vẫn còn may mắn hơn nhiều người cha, mẹ khác khi được đón hai người lính trở về bằng xương bằng thịt. Chỉ còn người con trai thứ 3 thì chưa tìm được mộ. Ông bà nằm xuống vẫn còn nguyên nỗi trăn trở về người bác đã hy sinh của tôi. 

Dù mới khởi đầu cuộc hành trình tìm người thân, nhưng tôi đã được gặp những người lính năm xưa, được nghe chuyện về các cuộc chiến đấu, về tinh thần bất khuất, xả thân, về sự gian nan, khổ luyện… Trong tôi không có cảm xúc nào khác ngoài sự cảm phục, lòng tự hào. Nước mắt liên tục rơi khi tôi trò chuyện với các ông - những người lính may mắn được trở về.

Sau chiến tranh, các cựu chiến binh tiếp tục cống hiến cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau. Có người trở về vẫn là ông nông dân hiền lành chất phác. Có người tôi vẫn gặp hàng ngày mà không biết được rằng, ông đã từng là người lính đầy quả cảm, ông đã từng vào sinh ra tử, là nhân chứng sống của cuộc chiến khốc liệt giành độc lập dân tộc. Cơm áo đời thường khiến họ quên đi quãng đời gian khổ. Nhưng, chỉ cần gợi lại thôi, biết bao câu chuyện, bao cảm xúc chợt ùa về khiến những người đàn ông rắn rỏi ấy bỗng trở nên yếu lòng.

2. Tháng 7. Dòng người đổ về các nghĩa trang, các di tích lịch sử ghi dấu ấn cuộc chiến. Trên đài tưởng niệm những người đã ngã xuống để bảo vệ thành cổ Quảng Trị trong trận chiến 81 ngày đêm, hương khói tưởng như không bao giờ dứt. Mà, cũng lạ kỳ thay, tôi đã nghe rất nhiều người kể rằng, khi đến địa danh này, trời nóng như đổ lửa. Thế nhưng, đúng vào lúc thắp hương, trời bỗng đổ mưa như vong linh liệt sỹ đang trở về.

Và, hôm chúng tôi đến viếng thành cổ, đúng như lời kể, một làn mưa bất chợt ào đến giữa ánh nắng chói chang của trưa hè. Tiếng nhạc "Hồn tử sỹ" vang lên cũng là lúc tất cả những con người đang cúi mình kính cẩn trước đài tưởng niệm òa khóc. Nơi đây, dưới mỗi thảm cỏ đều có thể là nơi yên nghỉ của các liệt sỹ. Bởi thế, khi đến mảnh đất thiêng này, mọi người đều đặt bước nhẹ nhàng vì sợ "động" đến các anh.

Mỗi câu chuyện được kể từ hướng dẫn viên, mỗi hình ảnh trong khu tưởng niệm đều khiến khách đến thăm không thể cầm lòng. Nụ cười ngạo nghễ giữa ngổn ngang đổ nát của thành cổ như chứng minh tinh thần bất diệt của những người lính mong chờ chiến thắng. Mỗi lời thơ gắn với thành cổ, với sự hy sinh của các anh luôn làm lay động lòng người, đặc biệt hơn giữa ngày tháng 7:

Thuyền xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Dưới sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi 20 thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.

Tháng 7. Vẫn tiếp tục có những người con trở về từ các chiến trường. Ngày 13-7-2017, tham dự lễ bàn giao hài cốt liệt sỹ đưa về từ nước bạn Lào, tôi đã gặp các cán bộ, sỹ quan quân đội trong Đội quy tập thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An. Thật xúc động khi nghe chuyện của những người lính thế hệ sau đi tìm hài cốt người lính thế hệ trước.

Trung tá Phạm Xuân Tám là người nhiều năm vượt suối băng rừng tìm hài cốt ở nước bạn Lào kể rằng, mỗi khi tìm được hài cốt, trong lòng những người lính hôm nay vừa vui mừng, vừa ngậm ngùi trước những mất mát to lớn của thế hệ trước. Vì lo sợ thú rừng tha mất hài cốt, nhiều khi các anh phải ôm hài cốt ngủ qua đêm.

Thông tin tìm hài cốt được lấy từ sơ đồ hoặc từ thông tin của thân nhân liệt sỹ, có sự trợ giúp của các cựu chiến binh. Trẻ đi chiến đấu, già đi tìm đồng đội - đó là tinh thần chung của những cựu chiến binh không quản ngại đường xa, khó khăn trở lại chiến trường xưa, tìm lại dấu vết của bạn chiến đấu. Trong những cánh rừng già, nơi khe núi, bờ suối… có nhiều, rất nhiều giọt nước mắt của những người lính già để lại.

Suốt đời, không bao giờ họ quên cuộc chiến, không bao giờ họ nguôi nỗi nhớ, trăn trở về các đồng đội nằm lại nơi chiến trường. Đến mỗi nghĩa trang liệt sỹ, đâu đâu cũng thấy có những ngôi mộ không tên nghi ngút hương khói. Nhiều người anh hùng hi sinh không để lại tên tuổi. Sự hi sinh ấy đã hóa thành bất tử.  

"Chiến tranh lùi xa
Những vết thương đã lành trên mặt đất
Máu thịt các anh hóa vào chồi biếc
Phía dương gian vẫn cuộn chảy không ngừng
Ba mươi năm các anh không hề khuất
Hai đầu khắc khoải gọi tìm nhau
Các anh chỉ nghe không thể nào nói được
Những nén nhang không biết đỏ về đâu?..."

"Những nén nhang vẫn đỏ mắt đi tìm" như lời tâm sự của nhà thơ Hà Văn Thể trong "Khúc bi tráng tháng bảy" sau khi dự lễ quy tập ngôi mộ tập thể các liệt sỹ hy sinh trong chiến dịch Mậu Thân tại sân bay Biên Hòa. Người thân, đồng đội vẫn đi tìm các anh. Nhưng, dù không được tận mắt gặp các anh thì các anh vẫn ở đâu đó quanh đây phù hộ cho đất nước luôn bình yên, nhân dân luôn hạnh phúc. Máu thịt các anh đã hóa vào chồi biếc để Tổ quốc mãi mãi xanh tươi.

Việt Hà

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.