Những đôi tay lưu giữ văn hóa độc đáo M’Nông

Từ xa xưa, đại ngàn mênh mang là không gian sinh tồn của những tộc người sống giữa núi rừng. Nương náu đại ngàn nên người dân phụ thuộc vào rừng, vào thiên nhiên hoang dã. Những vật dụng thường ngày, từ dụng cụ làm nương, chiếc gùi lên rẫy, vật dụng bắt cá... đều được làm từ cây lá của rừng, qua đôi bàn tay khéo léo cùng óc sáng tạo của con người mà thành. Nghề đan lát vì thế đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của đồng bào M’Nông.

Miệt mài giữ nghề truyền thống

Sản phẩm đan lát ngoài dùng trong sinh hoạt, trong lao động sản xuất hàng ngày, còn dùng để trang trí, trưng bày, biếu tặng; là quà hồi môn không thể thiếu trong lễ cưới của các dân tộc. Xã hội ngày càng phát triển, sản phẩm đan lát ít được sử dụng, thế hệ trẻ ít quan tâm đến nghề truyền thống của tổ tiên. Tuy nhiên, vẫn còn những nghệ nhân bền lòng với nghề, miệt mài níu giữ bản sắc dân tộc, bảo tồn cho thế hệ mai sau…

2.jpg -0
Nghệ nhân NTơr Ha Bang sáng tạo sản phẩm văn hóa bắt đầu từ cuộn dây mây.

Chúng tôi đến buôn làng của người M’Nông, nằm dưới chân núi Lăm Bour của miền Tây Nam Tổ quốc. Các sản phẩm đan lát của người M’Nông sở hữu kiểu dáng, hoa văn vừa độc đáo vừa huyền bí, được ưa chuộng so với sản phẩm của các dân tộc khác. Ông Nguyễn Văn Quang, Phó Chủ tịch UBND xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng giới thiệu chúng tôi đến gặp ông NTơr Ha Bang, sinh năm 1958, một nghệ nhân người M’Nông tài hoa trong nghề.

Nhà ông NTơr Ha Bang ở thôn Liêng Trang. Ngôi nhà lợp tôn, vách ghép từ những tấm gỗ cũ kỹ nhuộm màu đỏ của đất bazan. Trong nhà trưng bày khá nhiều sản phẩm đan lát đủ loại, túi xách, nia, rá, rổ, gùi, bình đựng rượu cần, nơm, rọ bắt cá… món nào cũng sinh động, bắt mắt.

Bằng chất giọng khàn đục, ông say sưa nói về sản phẩm của mình. Ông nói, nhìn chúng đơn sơ vậy nhưng để làm ra một sản phẩm mất khá nhiều thời gian và công sức. Sản phẩm đẹp, bền hay không là do người đan chăm chút từng khâu một.

Đầu tiên là đi tìm nguyên liệu. Đó là những sợi mây, cây giang, cây nứa ở tận rừng sâu. Những loài cây này ngày càng hiếm, đã thế không phải cây nào cũng dùng được, cần chọn cây đủ tuổi, không bị sâu mọt. Cây già quá thì thân cứng, nan dễ gãy, khó đan. Ngược lại, nếu non quá, nan chẻ ra đem phơi khô tong teo, không đủ độ dai bền.

Chọn được cây đủ tuổi đem chặt thành đoạn ngâm dưới suối, phơi nắng cho thật khô để không bị co rút. Riêng dây mây thì cuộn thành khoanh dài gác lên bếp, khi nào dùng đem ra cắt. Tiếp theo là công đoạn chẻ nan. Tùy mỗi sản phẩm mà nan có kích thước khác nhau. Nan chẻ cần đều tay, chuốt nan cho bóng bẩy, mềm mại.

Ông NTơr Ha Bang cho biết, kỳ công nhất là công đoạn đan, cần tỉ mẩn từng chút một. Sự sáng tạo cũng nằm ở công đoạn này, tùy theo cảm xúc, trí tưởng tượng và óc thẩm mỹ mà đan thành những hình thù, hoa văn khác nhau. Hoa văn chủ yếu là kỷ hà để tạo ra vạn vật như lá đậu (nirang ha tuh), cành đa (rơ nook mbah jiri), hình tam giác, hình vuông, hình đa giác…

Những sợi nan tạo hoa văn được nhuộm màu bằng cách giã nát một loại lá rừng bôi lên từng sợi, ngâm dưới bùn vài ngày, khi đó sợi nan sẽ có màu đen bóng đẹp mắt. Muốn tạo màu nâu đậm thì quét lá và để nan trên gác bếp một thời gian. Màu đậm hay nhạt là do xát lá rừng nhiều hay ít.

Lúc chúng tôi đến, ông NTơr Ha Bang đã làm xong và thu dọn, nhưng chiều lòng khách, ông vẫn mang bó mây ra vót cho chúng tôi xem. Vừa thoăn thoắt vót, ông vừa chỉ một chiếc gùi trên kệ, không tính thời gian chuẩn bị vật liệu, chỉ đan thôi đã mất 5 ngày mới xong. Những chiếc to hơn hoặc có nắp cần nhiều thời gian hơn nữa.

Trước đây ông làm nhiều vật dụng dành cho sinh hoạt gia đình, nay chuyển qua làm sản phẩm du lịch. Những sản phẩm này thường cầu kỳ, tốn nhiều công sức nhưng bán được giá cao. Muốn vậy, sản phẩm không chỉ bền đẹp mà còn mang tính nghệ thuật và độc đáo. Mỗi sản phẩm của ông đều mang bản sắc riêng. Những chiếc gùi, nia, bình, giỏ, túi.. lồng ghép nhiều hoa văn, biểu tượng, ký hiệu đặc biệt, vừa sinh động lại vừa bí ẩn, như chính kho tàng văn hóa của người M’Nông.

Sự tài hoa và bền bỉ với nghề của nghệ nhân NTơr Ha Bang khiến chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về chuyện đời cũng như tâm huyết “giữ lửa” nghề truyền thống của ông. Ông cho biết, theo truyền thống từ xưa, đàn ông M’Nông phải biết đan lát, săn bắn, bắt cá cũng như đàn bà phải biết dệt vải, làm rẫy, nuôi con. Ngày trước đàn ông đến tuổi trưởng thành phải đan được chiếc gùi thì mới lấy được vợ. Từ bé, ông học đan lát qua cha mình, làm các vật dụng sinh hoạt trong gia đình. Ông đi nhiều nơi, làm nhiều việc để kiếm sống, đến năm 2000 ông mới quay về nơi chôn nhau cắt rốn và làm nghề đan lát cho đến nay.

Do bệnh tật, nay ông đã già yếu, phải thuê người lấy mây tre nứa chứ không còn sức lội suối băng rừng tự đi tìm như ngày trước. Khó khăn là thế, vậy mà ông vẫn miệt mài với nghề, chưa lúc nào ngơi nghỉ. Có khi ông làm theo đơn đặt hàng, có khi làm để thỏa nhớ nhung, để giữ cho đôi tay linh hoạt. “Để cho mấy đứa trẻ nhìn thấy mà học hỏi”, nói đến đây ông nở nụ cười rạng rỡ.

Nỗi lòng người nghệ nhân

Rời nhà nghệ nhân NTơr Ha Bang, chúng tôi đến tổ hợp tác Mây tre đan thôn Liêng Trang, do nghệ nhân Cil Nếu, sinh năm 1965, làm tổ trưởng. Cùng chung nỗi trăn trở bảo tồn nghề truyền thống của dân tộc không bị mai một, đồng thời giúp những nghệ nhân tâm huyết với nghề có thêm thu nhập, ông Cil Nếu tập hợp những người đan lát ở gần nhau, hỗ trợ nhau và tìm đầu ra cho sản phẩm.

Tổ hợp tác Mây tre đan được thành lập từ đầu năm 2024, có 5 thành viên. Trong đó, thâm niên nhất là nghệ nhân Liêng Jrang Ha Krai ngoài 60 tuổi, nhỏ nhất là NTơr Ha Dũng vừa 30 tuổi. Nghệ nhân Liêng Jrang Ha Krai biết đan lát từ năm 15 tuổi, đôi bàn tay gắn với sợi mây giang gần nửa thế kỷ.

Ông chia sẻ, từ khi vào tổ mây tre đan, ông chỉ tập trung đan, những công đoạn khác như tìm nguyên liệu, tìm đầu ra đã có người lo, nên ông đan được nhiều hơn, cũng nhận được nhiều đơn hàng hơn. Nghệ nhân Cil Nếu cho biết thêm, hiện sản phẩm làm ra không đủ đáp ứng đơn đặt hàng, các thành viên rất phấn khởi.

3.jpg -1
Sản phẩm đan lát luôn có mặt trong ngày lễ đặc biệt của người M’Nông.

Trong các sản phẩm đan lát của người M’Nông, chiếc gùi được các dân tộc khác và kiều bào ở nước ngoài yêu thích đặt hàng nhiều. Nắm bắt thị hiếu đó, cùng với sự hỗ trợ của địa phương, ông Cil Nếu làm hồ sơ để chiếc gùi của thôn Liêng Trang được dán nhãn OCOP 3 sao, nhằm tăng thêm giá trị và sự tin tưởng của người tiêu dùng.

Thời gian tới, tổ sẽ mở lớp dạy đan lát miễn phí cho lớp trẻ, do chính những nghệ nhân có tay nghề như ông Liêng Jrang Ha Krai trực tiếp hướng dẫn, để họ có thêm thu nhập đồng thời giữ được nghề truyền thống của cha ông.

Một tín hiệu đáng mừng là hiện nay một số thanh niên trong buôn đã quan tâm đan lát trở lại, theo các nghệ nhân học nghề. Một số bạn trẻ xem đan lát là nghề chính, vừa làm sản phẩm phục vụ sinh hoạt vừa làm sản phẩm du lịch, mở ra hướng đi lâu dài. Chàng trai NTơr Ha Dũng tâm sự. “Hồi đó mình không để ý vì thấy sản phẩm đan lát làm ra ít ai mua. Giờ làm sản phẩm du lịch, có thu nhập. Thỉnh thoảng mình còn theo các nghệ nhân đi đan lát biểu diễn trong các dịp lễ hội, sinh hoạt của địa phương, của tỉnh, thấy vui và tự hào về nghề truyền thống của dân tộc mình”.

Nói về nghề đan lát của người M’Nông, ông Nguyễn Văn Quang cho biết. “Những năm qua, công tác bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào luôn được các cấp chính quyền quan tâm và tạo điều kiện. Nhờ những nghệ nhân tâm huyết với nghề như ông NTơr Ha Bang, Liêng Jrang Ha Krai, Cil Nếu… mà nghề đan lát được bảo tồn và truyền thừa cho thế hệ trẻ, từ đó nghề truyền thống của đồng bào M’Nông được lưu truyền như nét văn hóa độc đáo của núi rừng Tây Nguyên”.

Hoàng Ngọc Thanh

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.