Những dấu ấn khác biệt của Hoàng Trung Thông

Nhà thơ Hoàng Trung Thông là con người tài hoa, đa năng mà cuộc đời và sự nghiệp phong phú mang những dấu ấn khác biệt đáng để hậu thế tiếp tục quan tâm.

Ông sinh ngày 5/5/1925 quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và mất ngày 4/1/1993. Năm nay kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ họ Hoàng, ông vừa được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật lần thứ 6. Trước đó, ông cũng được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

"Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm". Hai câu thơ quen thuộc đề cao tinh thần lao động trong "Bài ca vỡ đất" của nhà thơ Hoàng Trung Thông viết từ năm 1948 được đưa vào sách giáo khoa mà thế hệ chúng tôi học thuộc lòng. Hai câu thơ giản dị, sâu sắc mang tính triết lý nhân sinh, phần nào thể hiện tinh thần thi ca trong suốt sự nghiệp của ông.

Ở phương diện lãnh đạo, Hoàng Trung Thông được xem là "quan văn nghệ" khi từng giữ các trọng trách: Tỉnh ủy viên Nghệ An, Ủy viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương, Tổng biên tập Báo Văn Nghệ và Tổng biên tập Tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương), Viện trưởng Viện Văn học và Tổng biên tập Tạp chí Văn học (nay là Tạp chí Nghiên cứu Văn học). Ông được biết đến là người có tiếng nói quan trọng trong nhiều vụ việc văn hóa văn nghệ giữa lúc đất nước còn bị chia cắt hai miền vì chiến tranh.

hoàng trung thông (1).jpg -0
Nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925-1993). Ảnh: TL

Về chuyên môn nghề nghiệp, Hoàng Trung Thông là nhà nghiên cứu văn học, tác giả các tập phê bình, tiểu luận: "Chặng đường mới của văn học chúng ta" (1961), "Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống" (1979)… Ông còn là dịch giả Hán văn và Nga văn, với các tác phẩm dịch thuật về thơ Đỗ Phủ, Lục Du, Puskin, Mayakovsky, Simonov… và tham gia dịch, nghiên cứu thơ thời Lý - Trần, đề thơ ở từ đường Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Đặc biệt, ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu hàng đầu thế hệ kháng chiến chống Pháp, xuất bản các tập thơ: "Đường chúng ta đi" (1960), "Những cánh buồm" (1964), "Đầu sóng" (1968), "Tiếng thơ không dứt" (1989)...

Có thể nói, định danh "quan văn nghệ" của Hoàng Trung Thông chẳng qua là nhiệm vụ quản lý hành chính, còn chủ yếu ông là người hoạt động nghiên cứu, dịch thuật, sáng tác văn học chuyên nghiệp. Điều đó đã thể hiện qua phong thái và ứng xử của ông. PGS-TS Lưu Khánh Thơ của Viện Văn học cho biết: "Năm 1975, nhà thơ Hoàng Trung Thông về làm Viện trưởng Viện Văn học theo lời mời của Giáo sư Đặng Thai Mai. Trái với tư thế nghiêm nghị, mực thước của vị Viện trưởng tiền nhiệm, nhà thơ Hoàng Trung Thông có tác phong giản dị gần gũi của một cán bộ quần chúng và sự phóng khoáng, thoải mái của người nghệ sĩ, nên các lớp cán bộ trẻ rất dễ gần. Ông ghé vào đâu, anh em có thể thoải mái nói chuyện hàng giờ với ông. Gặp ở ngoài đường, có thể cùng nhau tạt vào một quán nước chè, muốn bàn gì với ông cũng nhanh và tiện. Những lúc tỉnh táo, ông nói chuyện hấp dẫn, dí dỏm với những ý kiến sâu sắc, uyên bác về văn học".

Khi nhà thơ Hoàng Trung Thông đang là Viện trưởng Viện Văn học, có chủ trương của Nhà nước phong học hàm giáo sư cho các chuyên gia ở viện nghiên cứu. Đây là vinh dự lớn không chỉ của thời còn hiếm học vị học hàm ấy, mà ngay cả bây giờ cũng là mục tiêu đáng mơ ước của nhiều người. Tuy nhiên, dù Hoàng Trung Thông được ủng hộ tuyệt đối nhưng ông đã thẳng thừng từ chối: "Tôi là nhà thơ. Thế đủ rồi. Còn giáo sư gì nữa".

"Nhiều ý kiến cho rằng, thơ Hoàng Trung Thông có phần tỉnh táo, hiển ngôn, thiếu phần mượt mà. Thực tế, thơ ông giàu suy tư, suy tưởng và chân tình, chân thành, chân thật. Với Hoàng Trung Thông, chính sự chân thật đã "cứu" thơ ông, giúp thơ ông gần với đời, gần với lối nói mộc mạc, bình dị". PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn nguyên Viện phó Viện Văn học nhận xét và cho biết thêm: "Hoàng Trung Thông dường như cũng dự cảm được cái "tạng" của thơ mình nên đã tiếp nhận và hóm hỉnh đùa vui: "Chế Lan Viên chưa bao giờ khen thơ tôi mà khi viết thường nói thơ tôi phải say hơn nữa. Tôi cố uống rượu để cho say mà thơ tôi vẫn tỉnh như mọi người đều nói". Chính với tình bạn, tình người đã lan truyền và khiến Chế Lan Viên cảm xúc viết bài thơ cũng rất mực chân thành, ân nghĩa: "Ông thì hay say/ Tôi thì quá tỉnh" (Gửi Trạng Thông họ Hoàng)".

 "Bài ca vỡ đất" cùng với "Anh chủ nhiệm" viết năm 1962 là hai bài thơ tiêu biểu của Hoàng Trung Thông khắc ghi hình ảnh một thời về con người và đất nước:

Nắng chiều thấp thoáng ngọn cây tre
Sóng lúa mênh mông cuộn đổ về
Anh cùng tôi bước trên đê nhỏ
Áo nâu bạc màu bay với gió
Anh giơ tay vẽ giữa đồng xanh
Vẽ cả ngày mai thành bức tranh.

Ít người biết rằng, bài thơ "Anh chủ nhiệm" là kết quả từ một chuyến đi thực tế sáng tác ở Nam Định của nhà thơ Hoàng Trung Thông cùng một đoàn nhà văn được sự hướng dẫn của tác giả tiểu thuyết "Bão biển" - nhà văn Chu Văn lúc ấy đang là Trưởng ty Văn hóa tỉnh Nam Hà (về sau tách trở lại thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam).

Hình ảnh nhân vật trong bài thơ của Hoàng Trung Thông là ông Trần Sĩ Tưởng - Chủ nhiệm Hợp tác xã cấp cao Mỹ Thắng tiên tiến ở huyện chiêm trũng Bình Lục vốn là vùng quê nghèo khó ven sông Châu. Vào thời kháng chiến chống Pháp, Trần Sĩ Tưởng tham gia Mặt trận Việt Minh, được kết nạp Đảng Cộng sản, nhưng trong Cải cách ruộng đất bị vu oan là "Quốc dân đảng" nên bị khai trừ Đảng, về sau sửa sai ông được kết nạp Đảng trở lại. Nhờ thừa kế kinh nghiệm tính toán làm ăn giỏi từ cha mẹ, Trần Sĩ Tưởng cùng vợ đã sản xuất, làm ăn phát đạt rồi đem áp dụng cho hợp tác xã khi được bà con tín nhiệm bầu làm chủ nhiệm. Thú vị hơn, ông Trần Sĩ Tưởng chính là anh ruột của Đại tá, nhà báo Trần Nhung từng là Trưởng phòng Biên tập Thời sự Quốc tế Báo Quân đội Nhân dân và Tổng biên tập Báo Cựu chiến binh.

Cuối đời, khi trở về với con người đích thực chính mình nhất, phẩm chất nghệ sĩ càng thể hiện mạnh mẽ trong thơ Hoàng Trung Thông. Tập thơ cuối cùng "Mời trăng" xuất bản năm 1992 của ông mang tính hướng nội, phản ánh những xung động khắc khoải bung phá vượt thoát trong tâm hồn, như bài "Biển" ông viết: "Tôi/ như cây/ nhổ ra/ khỏi đất/ Tôi/ như cá/ ra/ khỏi/ biển khơi".

Nhà thơ Hoàng Trung Thông còn là người thích xê dịch và nổi tiếng yêu quý bạn bè văn nghệ, chơi thân với các nhà thơ Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Anh Thơ, Mộng Tuyết hay các họa sĩ Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, Diệp Minh Châu, Mai Văn Hiến,… Khi trải qua ngọt đắng thăng trầm đời người, bạn bè đồng nghiệp là điểm tựa cho cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Như ông gửi gắm qua bài thơ "Nhìn" xúc động viết tặng họa sĩ Mai Văn Hiến:

"Bên kia đường một người bơm xe
Bên này đường một người bét nhè
Còn tôi
Không bơm xe, vá xe
Không say rượu
Tôi ngẩn ngơ trông
Dưới gốc hòe mát rượi
Xe có thể bơm
Rượu có thể say
Tôi một mình nhìn và nhớ bạn
Thấy đời mình bớt nỗi đắng cay
". 

Ngoài thơ, Hoàng Trung Thông còn có những bài viết đáng chú ý về chân dung đồng nghiệp các thế hệ. Như với nhà văn Nam Cao mà ông có dịp gặp ở Việt Bắc trước khi tác giả của "Chí Phèo" hy sinh năm 1951: "Nam Cao là người rất tỉnh. Nhưng có lúc Nam Cao cũng say. Ai đã từng uống rượu với Nam Cao thì mới biết hết tấm lòng của anh. Khi rượu bốc lên, anh cũng chửi văng mạng như Chí Phèo. Lúc đó, có lẽ mới thật là Nam Cao. Nhưng lúc đó, Nam Cao hóa Chí Phèo, hay Chí Phèo hóa Nam Cao?". Những câu văn dung dị, tinh tế, sâu sắc. Hoàng Trung Thông viết cho Nam Cao mà ngỡ như viết cho chính ông!

Phan Huỳnh

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.