Thiếu tướng Cao Thượng Lương

Những dấu ấn đặc biệt

Thiếu tướng Cao Thượng Lương từng là người lính can trường trong thời chống Pháp, từng là một sĩ quan Công an vũ trang sắc sảo trong thời chống Mỹ và là vị Tướng, Phó Giáo sư, Tiến sỹ trong thời đổi mới. Ở bất cứ lĩnh vực nào, ông đều ghi dấu ấn nổi bật được Đảng, Nhà nước, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng tặng nhiều huân, huy chương cao quí.

Sát cánh cùng lực lượng Công an vũ trang

Năm 1958, từ chiến trường ra, Thiếu tá Cao Thượng Lương được chuyển sang lực lượng Công an vũ trang đảm nhiệm chức Trưởng phòng Tuyên huấn. Mới chân ướt chân ráo sang nhận nhiệm vụ, ông đã được Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Thứ trưởng Bộ Công an, Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an vũ trang triệu tập lên báo cáo tình hình tư tưởng của toàn lực lượng.

Trong lần báo cáo ấy, Thiếu tá Cao Thượng Lương đã nêu bật những mặt được và chưa được của lực lượng Công an vũ trang còn non trẻ, đặc biệt ông đã đưa ra một đề xuất mang tầm chiến lược. Lấy 8 câu thơ của Bác trong ngày thành lập lực lượng: "Đoàn kết cảnh giác. Liêm chính kiệm cần. Hoàn thành nhiệm vụ. Khắc phục khó khăn. Dũng cảm trước địch. Vì nước quên thân. Trung thành với Đảng. Tận tụy với dân" làm tư tưởng chỉ đạo cho hoạt động công tác chính trị của lực lượng Công an vũ trang. Đồng thời ông đã đề xuất phương hướng: "Lấy đồn làm nhà, biên giới là quê hương, đồng bào dân tộc là anh em ruột thịt".

Cục trưởng Cục Chính trị Công an nhân dân vũ trang Cao Thượng Lương báo cáo công việc với Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh (ảnh chụp năm 1979).
Cục trưởng Cục Chính trị Công an nhân dân vũ trang Cao Thượng Lương báo cáo công việc với Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh (ảnh chụp năm 1979).

Được Thứ trưởng Phan Trọng Tuệ ủng hộ nhiệt liệt, Thiếu tá Cao Thượng Lương đã cùng toàn thể lãnh đạo, cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng tích cực triển khai tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch và từng bước thành lập các cục, phòng, ban, các đơn vị báo chí, điện ảnh, đoàn văn công, đội chiếu bóng, bảo tàng, in ấn, mở trường văn hóa... để nâng cao kiến thức cho cán bộ, nhất là số cán bộ dân tộc ít người ở các vùng biên giới hẻo lánh. Nhìn lại quá trình trưởng thành của lực lượng Biên phòng ngày nay trên cơ sở thấm nhuần tư tưởng của Bác mới thấy ông là người có nhiều kinh nghiệm hoạt động công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, có tinh thần chủ động, sáng tạo.

Năm 1974 ông được phong quân hàm Thượng tá, rồi được đề bạt Cục trưởng Cục Chính trị Công an vũ trang. Năm 1979 được phong hàm Đại tá, Bí thư Đảng ủy Cục Chính trị và Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Công an vũ trang Trung ương (trực thuộc Ban Bí thư). Đây là thời kì đất nước có nhiều biến động lớn: Bác Hồ qua đời, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, rồi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc bùng nổ.

Ở góc độ này, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng, trực tiếp đi khảo sát biên giới cả Bắc - Trung- Nam. Viết bài, nói chuyện, lên kế hoạch, báo cáo các cấp lãnh đạo từ lực lượng đến các cấp Trung ương, Ban Bí thư và đã góp phần tích cực trong việc xây dựng hệ thống tổ chức đồn trạm Biên phòng cả trên biển và đất liền theo tư tưởng dựa vào dân của Bác Hồ.

Trong một lần xem tập ảnh gia đình, ông vừa giới thiệu nguồn gốc các bức ảnh vừa nói với tôi: "Nhờ những năm tháng công tác ở lực lượng Công an vũ trang, cậu có may mắn được nhiều lần trực tiếp làm việc với cố Tổng Bí thư Trường Chinh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng....

Riêng với Đại tướngVõ Nguyên Giáp, cậu còn có hai lần tháp tùng ông đi thị sát các vùng biên giới phía Bắc và phía Nam nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng đồn biên phòng ngày càng chính qui, hiện đại. Đáng nhớ nhất là lần cậu được Bộ Công an giao nhiệm vụ dẫn đầu đoàn biên phòng chi viện cho Liên khu V (bao gồm cả Tây Nguyên) vừa giải phóng (3/1973), cậu đã cùng anh em vượt nguy hiểm, nhanh chóng tiếp quản và xây mới thành công lực lượng biên phòng ở những nơi quân địch mới rút đi, góp phần làm tốt công tác bảo vệ biên giới cho những vùng vừa mới được giải phóng".

Với lực lượng Quân đội nhân dân.

Năm 1981, khi lực lượng Công an vũ trang được chuyển sang Bộ Quốc phòng, ông được điều về công tác tại Học viện Quân sự cấp cao, đi học và tốt nghiệp Học viện Quân sự cấp cao (Khóa 6), làm Trưởng Bộ môn, Phó Ban rồi Trưởng Ban của Học viện. Sau khi tốt nghiệp khóa học, ông được chọn làm nghiên cứu sinh Khóa 1, khóa đầu tiên đào tạo tiến sỹ của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1989, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ khoa học quân sự với một  đề tài thuộc loại nhạy cảm, khó viết nhưng ông đã vượt qua bằng những phân tích, kiến nghị khoa học sắc sảo, được Hội đồng chấm luận án đánh giá cao. Giáo sư Phạm Đức Dương, Viện trưởng Viện Đông Nam Á lúc ấy khẳng định: "Đó là một công trình vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn cao".

Năm 1990, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, năm 1991 được phong Phó Giáo sư và làm Tổng Biên tập Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu năm (1998). Thời gian này, ông là Ủy viên Hội đồng Chức danh Khoa học của Học viện, đã tham gia nhiều Hội đồng chấm luận án tiến sỹ và tương đương. Ông đã biên tập và làm phản biện nhiều công trình khoa học cấp nhà nước, đặc biệt đã trực tiếp hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh trong đó có Tiến sỹ Tăng Huệ về sau là Trung tướng Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.

Về phương diện khoa học, Thiếu tướng Cao Thượng Lương đã viết ba tập sách trong đó có cuốn "Nghệ thuật quân sự", "Đối tượng tác chiến", hàng trăm bài báo, trong đó có hàng chục bài viết về Biển Đông và luật biển đăng trên các Tạp chí của Đảng, của Quân đội, Công an...

Đánh giá về các bài viết của ông, Đại tá Hoàng Quốc Hiền, Tổng biên tập Tạp chí Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng viết trong bức thư gửi ông ngày 19/8/2013: "Những bài viết và tư liệu do thủ trưởng cung cấp được đăng trên các tạp chí Khoa học quân sự luôn có giá trị và hàm lượng quân sự cao, có ý nghĩa, giá trị trong nghiên cứu khoa học quân sự và giáo dục quốc phòng. Tạp chí Khoa học quân sự khẳng định rằng sự cộng tác giúp đỡ, ủng hộ của thủ trưởng trong nhiều năm đã góp phần nâng cao chất lượng và uy tín của Tạp chí Khoa học quân sự".

Với khả năng diễn thuyết hấp dẫn, ông còn có hàng chục buổi nói chuyện với các đơn vị trong Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các trường đại học và các ban ngành trong cả nước về những vấn đề có liên quan đến biên giới quốc gia, tư tưởng Hồ Chí Minh về ổn định lâu dài biên giới quốc gia, về vai trò quần chúng nhân dân và công tác vận động quần chúng nhân dân bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia ...

Thiếu tướng Cao Thượng Lương.
Thiếu tướng Cao Thượng Lương.

Mới đây khi biết tôi là cháu ông Cao Thượng Lương, bạn tôi, nhà văn Phùng Thiên Tân, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Công an nhân dân bộc bạch: "Thời học Đại học C500 (nay là Học viện An ninh), tôi được nghe ông Lương nói chuyện nhiều lần tại trường. Ông Lương những năm 70 của thế kỷ trước là trung tá, đẹp trai, diễn thuyết hùng biện nghe rất sướng tai. Ngày đó ông Lương là thần tượng của thế hệ tôi đấy".

Gần 60 năm trong quân ngũ, Thiếu tướng Cao Thượng Lương luôn có ý chí vươn lên, không ngừng học hỏi để tự nạp cho mình những kiến thức sâu rộng và bền vững. Ngoài hàng chục lớp học do nhà nước tổ chức, ông còn theo học lớp bổ túc văn học hệ đại học của Trường Đại học tổng hợp.

Tự mình đọc thêm sách về triết học, nghệ thuật quân sự trong và ngoài nước, về văn hóa nhân loại để phục vụ cho các bài viết và nói của mình có giá trị sâu sắc. Bị xuất huyết não đến lần thứ hai không đi không nói được, ông đã dũng cảm chiến đấu, tập luyện đêm ngày, kiên quyết đứng lên và hiện nay đã ngồi vào bàn tiếp tục đọc sách và viết nhiều bài báo phục vụ cho công tác biên phòng của nước nhà. Mỗi lần lên thăm, thấy ông đi liêu xiêu với chiếc gậy không cần sự giúp đỡ của bất cứ ai, thấy ông ngồi cố gắng đối thoại cho dù giọng nói không còn hoàn chỉnh nữa nhưng bàn tay cầm bút vẫn quyết liệt lướt trên trang giấy, tôi xúc động đến trào nước mắt. Nghị lực phi thường ấy không dễ gì ai cũng có được.

Sống trung thực, thẳng thắn, nhân hậu, Thiếu tướng Cao Thượng Lương được anh em chiến sỹ và bạn hữu yêu quí tin cậy.Với các cấp lãnh đạo, ông luôn thẳng thắn trình bày các ý kiến khác của mình, nên bị một số người định kiến. Nhưng có sao đâu, vì ông biết rõ cá tính khó sửa của mình.

Tôi nhớ một lần bố tôi từ Vinh ra thăm ông. Đêm hai anh em hàn huyên với nhau, ông tâm sự: "Mới rồi, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn có đề nghị em nhận nhiệm vụ làm Giám đốc Công an Hà Nội. Em nói thẳng với Bộ trưởng Hoàn là em chỉ cương được chứ nhu thì kém lắm, mà làm Giám đốc Công an Hà Nội cần người giỏi cả cương và nhu. Vì thế em đề nghị Bộ trưởng Hoàn cho em ở lại Công an vũ trang".

Một đời ông là một đời hoạt động, cống hiến và là tấm gương sáng về sự vươn lên cho thế hệ trẻ noi theo.

Nguyễn Đăng An

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.