Hai di sản của buổi đầu thời đại hạt nhân
Một trong những hình ảnh đặc trưng của thời kỳ cạnh tranh giữa Washington và Moskva là những chiếc "gấu bay" Tu-95 của Liên Xô xuất hiện ngoài khơi Bắc Mỹ, lần lượt được các thế hệ tiêm kích Mỹ tiếp cận: từ F-102, F-106 trong những năm đầu Chiến tranh Lạnh, đến F-4, F-15 trong thập niên 1970, 1980 và siêu tiêm kích F-22 thế hệ 5 trong thế kỷ XXI. Ở chiều ngược lại, B-52 cũng nhiều lần nằm trong tầm ngắm của lực lượng tiêm kích Liên Xô và Nga, bao gồm các cuộc đụng độ với MiG-21 trong thập niên 1970 và sau này là các thế hệ tiêm kích như Su-27, MiG-31 hay Su-35.
Nguồn gốc của Tu-95 và B-52 đều gắn với sự thay đổi căn bản của chiến tranh sau Thế chiến II, khi vũ khí hạt nhân lần lượt xuất hiện tại Mỹ và Liên Xô, đặt ra yêu cầu về những phương tiện có khả năng mang vũ khí tới những nơi rất xa.
Sau khi Liên Xô thử thành công bom nguyên tử năm 1949, Moskva cần một máy bay có khả năng thực hiện nhiệm vụ liên lục địa. Phòng thiết kế Tupolev được giao phát triển loại máy bay này và cho ra đời nguyên mẫu Tu-95 hoàn chỉnh tháng 11/1952. Sau các thử nghiệm, Tu-95 bắt đầu hoạt động trong không quân Liên Xô từ năm 1957.
Tu-95 sử dụng 4 động cơ turboprop công suất lớn, mỗi động cơ dẫn động một cặp cánh quạt đồng trục quay ngược chiều, thay vì động cơ phản lực. Cấu hình này tạo nên đặc điểm rất riêng. Theo Air & Space Forces Magazine, việc sử dụng turboprop thay vì động cơ phản lực tạo sự cân bằng giữa tốc độ, tầm bay và hiệu quả nhiên liệu. Tu-95 có tốc độ tối đa hơn 900 km/giờ và bán kính tác chiến không tiếp dầu 8.000 km. Tập đoàn Hàng không Thống nhất (UAC) của Moskva cho biết ngay từ cuối những năm 1940, yêu cầu đặt ra đối với Tu-95 là có thể cất cánh từ Liên Xô, bay tới Mỹ rồi trở về.
Về kích thước, Tu-95 có chiều dài khoảng 49m, sải cánh 50m và trọng lượng cất cánh tối đa xấp xỉ 185 tấn, tùy biến thể. Quy mô này cho phép máy bay mang lượng nhiên liệu lớn, duy trì hành trình đường dài và mang theo các loại vũ khí chiến lược. Theo một báo cáo nghiên cứu của Quốc hội Mỹ về lực lượng hạt nhân Nga, Tu-95 với tầm bay lớn hơn các máy bay ném bom trước đó đã trở thành nền tảng chủ lực của thành phần đường không trong bộ ba hạt nhân Liên Xô từ thập niên 1960.
Ở phía bên kia, Mỹ đã bắt đầu sớm hơn. Thiết kế của Boeing được lựa chọn năm 1946 là một máy bay cánh thẳng, 6 động cơ, sử dụng cánh quạt. Tuy nhiên, năm 1948, Boeing nhận yêu cầu chuyển sang một thiết kế sử dụng hoàn toàn động cơ phản lực. Nhóm thiết kế do kỹ sư trưởng Ed Wells phụ trách nhanh chóng xây dựng phương án mới với 8 động cơ và cánh xuôi. Nguyên mẫu B-52 thực hiện chuyến bay đầu tiên ngày 15/4/1952, vài tháng trước Tu-95 và được đưa vào hoạt động năm 1955. Boeing đã chế tạo 744 chiếc thuộc các biến thể B-52 từ năm 1952 đến năm 1962. Phiên bản cuối cùng, B-52H, thực hiện chuyến bay đầu tiên năm 1961 và vẫn được sử dụng đến nay.
B-52H dài khoảng 48,5m, sải cánh 56,4m, trọng lượng cất cánh tối đa 220 tấn và có thể mang khoảng 31,5 tấn vũ khí. Máy bay sử dụng 8 động cơ Pratt & Whitney TF33, có tầm bay không tiếp dầu khoảng 14.160 km và tốc độ tối đa khoảng 1.046 km/giờ.
Với thiết kế ban đầu là một oanh tạc cơ hoạt động liên lục địa, B-52 nhanh chóng trở thành một trong những trụ cột của thành phần đường không trong bộ ba hạt nhân Mỹ bên cạnh tên lửa đạn đạo liên lục địa và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm. Trong những năm cao điểm của Chiến tranh Lạnh, vai trò răn đe của B-52 được thể hiện trực tiếp qua các chuyến bay trực chiến mang vũ khí hạt nhân. TIME đưa tin, tháng 3/1961, 12 chiếc B-52 mang bom khinh khí được duy trì trên không suốt ngày đêm, bay vòng trên bầu trời Mỹ và Canada, sẵn sàng đáp trả trong trường hợp Liên Xô tiến hành một cuộc tấn công trước. Các chuyến bay kéo dài 24/24 và được tiếp dầu trên không. Hoạt động này nằm trong Chiến dịch Chrome Dome, được Mỹ duy trì từ năm 1961 đến năm 1968.
Dù cũng được sử dụng để duy trì khả năng răn đe hạt nhân của Liên Xô, Tu-95 vận hành theo phương thức khác. Chúng được huy động thực hiện những chuyến bay đường dài ở khu vực Bắc Cực và các hướng tiếp cận Bắc Mỹ, qua đó duy trì khả năng thực hiện nhiệm vụ chiến lược và kiểm tra phản ứng của hệ thống phòng không đối phương.
Trong khi B-52 hoạt động 24/24 trên không, các chuyến bay Tu-95 chủ yếu dưới dạng tuần tra, huấn luyện và diễn tập đường bay chiến lược. Sau Chiến tranh Lạnh, Nga dừng hoạt động bay vài năm, sau đó khôi phục các chuyến bay tuần tra đường dài của Tu-95 trên Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Bắc Cực; một chuyến bay có thể kéo dài 15 giờ, có tiếp dầu trên không và được hộ tống bởi tiêm kích.
Cuộc đối đầu kéo dài qua nhiều thế hệ
B-52 và Tu-95 không chỉ là hai loại máy bay ném bom chiến lược cùng tồn tại trong hai lực lượng đối địch, mà còn thường xuyên xuất hiện ở hai đầu của những cuộc đối đầu trên không. Từ năm 1961 đến 1991, các máy bay Tu-95 nhiều lần tiếp cận vùng nhận dạng phòng không của Bắc Mỹ và bị máy bay tiêm kích Mỹ, Canada ngăn chặn.
Theo Air & Space Forces Magazine, những cuộc chạm trán này diễn ra hàng nghìn lần, chủ yếu ở khu vực Bắc Cực, biển Bering và gần bờ biển Anh. Ở phía bên kia, B-52 cũng là một trong những thành phần chủ lực của hệ thống răn đe hạt nhân Mỹ, khiến lực lượng Liên Xô nhiều lần triển khai phương tiện để cảnh báo.
New York Times tiết lộ, mô hình bay trực chiến 24/24 kiểu B-52 từng gây ra các sự cố nghiêm trọng. Ngày 17/1/1966, một B-52 mang 4 bom nhiệt hạch va chạm với máy bay tiếp dầu KC-135 trong quá trình tiếp dầu trên không gần Palomares, Tây Ban Nha. 3 quả bom rơi xuống đất, làm phát tán plutonium tại khu vực này; quả thứ tư rơi xuống biển Địa Trung Hải và được tìm thấy sau đó. 2 năm sau, ngày 21/1/1968, một B-52 mang 4 bom nhiệt hạch gặp hỏa hoạn trên chuyến bay trực chiến gần căn cứ Thule ở Greenland. Phi hành đoàn phải thoát khỏi máy bay, còn chiếc B-52 rơi xuống băng. Vụ việc khiến vật liệu phóng xạ bị phát tán tại khu vực tai nạn.
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, hai máy bay vẫn nằm trong lực lượng răn đe hạt nhân của Nga và Mỹ, nhưng tập trung hơn vào các nhiệm vụ tác chiến thông thường. Trong khuôn khổ Hiệp ước Cắt giảm vũ khí chiến lược (START) với Nga, Mỹ đã cắt bỏ cánh của 365 chiếc B-52. Hầu hết số B-52 còn lại được chuyển sang nhiệm vụ thông thường và tham gia các chiến dịch quân sự tại Iraq trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Năm 1996, hai B-52H phóng 13 tên lửa hành trình thông thường AGM-86C vào các mục tiêu tại Baghdad trong Chiến dịch Desert Strike. Đến Afghanistan năm 2001, B-52 được sử dụng như một nền tảng bay trên khu vực chiến trường trong thời gian dài, phối hợp với lực lượng mặt đất và sử dụng vũ khí dẫn đường chính xác. Năm 2003, B-52 sử dụng pod chỉ thị mục tiêu Litening II trong chiến đấu tại Iraq, lần đầu tiên sử dụng hệ thống này để tự phát hiện, xác định và chỉ thị mục tiêu cho bom dẫn đường bằng laser.
Tu-95 cũng được điều chỉnh theo hướng tương tự. Từ một máy bay ném bom hạt nhân, dòng Tu-95 được phát triển để mang tên lửa hành trình tầm xa nhằm phù hợp với điều kiện tác chiến mới, không cần tiếp cận khu vực phòng không đối phương. Năm 1958, Tu-95K trở thành phiên bản mang tên lửa đầu tiên, trang bị Kh-20 mang đầu đạn hạt nhân. Đến cuối thập niên 1970, Liên Xô phát triển Tu-95MS trên cơ sở Tu-142; phiên bản này được sản xuất hàng loạt từ năm 1981 và trở thành phiên bản chính của Tu-95 ngày nay.
Sự thay đổi này đặc biệt quan trọng khi hệ thống phòng không, radar và tiêm kích đánh chặn ngày càng phát triển. Thay vì yêu cầu một máy bay ném bom lớn phải tự mình xuyên qua mạng lưới phòng không để tiếp cận mục tiêu, vũ khí tầm xa cho phép máy bay thực hiện nhiệm vụ từ khoảng cách an toàn hơn. Vì vậy, Tu-95MS và B-52 dần trở thành những nền tảng phóng vũ khí tầm xa. Trong khi B-52 tham gia hầu hết các hoạt động quân sự ở nước ngoài của Mỹ, Tu-95MS lần đầu tham chiến khi Nga mở chiến dịch chống khủng bố ở Syria năm 2015. Hơn 4 năm xung đột Ukraine gần đây, Tu-95MS tham gia hàng trăm nhiệm vụ khai hỏa tên lửa Kh-101 vào các mục tiêu đối phương.
Để đáp ứng yêu cầu tác chiến thay đổi, Mỹ đều thực hiện các đợt nâng cấp lớn đối với B-52. Từ cuối thập niên 1980, B-52 bắt đầu được tích hợp khả năng định vị toàn cầu. Sang thế kỷ XXI, hệ thống liên lạc, quản lý nhiệm vụ và giao diện vũ khí tiếp tục được số hóa. Năm 2013, Không quân Mỹ triển khai Công nghệ liên lạc mạng tác chiến, cho phép kíp bay gửi và nhận dữ liệu qua vệ tinh, thay đổi kế hoạch nhiệm vụ và cập nhật mục tiêu trong chuyến bay. Tiếp đó, Mỹ nâng cấp khoang vũ khí bên trong theo chuẩn 1760, đưa giao diện kỹ thuật số vào khoang bom. Giai đoạn đầu cho phép B-52 mang thêm tới 8 bom tấn công trực tiếp liên hợp trong khoang, trong khi các giai đoạn tiếp theo mở rộng khả năng mang tên lửa không đối đất liên hợp và mồi bẫy phóng từ trên không.
Những thay đổi này tiếp tục được đẩy lên quy mô lớn trong chương trình hiện đại hóa hiện nay. Mỹ đang thay 8 động cơ TF33 bằng động cơ F130 của Rolls-Royce và thay radar APQ-166 bằng radar mảng pha điện tử chủ động. Theo GAO, tính đến năm 2025, chi phí mua sắm dự kiến của chương trình thay động cơ đã vượt 15,4 tỷ USD, còn chương trình hiện đại hóa radar vượt 2,9 tỷ USD. Hai chương trình chiếm hơn 88% tổng khoản đầu tư hiện đại hóa B-52 dự kiến gần 21 tỷ USD.
Tu-95MS cũng được hiện đại hóa để duy trì khả năng thực hiện các nhiệm vụ chiến lược. Giai đoạn 2018-2019, Nga thực hiện chương trình hiện đại hóa ban đầu, thay thế một số thiết bị vô tuyến. Sau đó, chương trình Tu-95MSM bổ sung động cơ NK-12MPM và cánh quạt AV-60T, radar Novella-NV1.021, hệ thống hiển thị SOI-021, hệ thống dẫn đường mới và tổ hợp phòng vệ Meteor-NM2. Nguyên mẫu Tu-95MSM đầu tiên thực hiện chuyến bay đầu tiên ngày 22/8/2020. Theo Rostec, động cơ NK-12MPM cải thiện đặc tính cất cánh, tăng tải trọng và tầm bay; cánh quạt mới cùng các giải pháp kỹ thuật khác giúp giảm gần một nửa mức rung động. Những thay đổi này nhằm duy trì khả năng khai thác Tu-95MSM và cho phép máy bay sử dụng các thế hệ vũ khí hiện đại.
Tương lai nào cho B-52 và Tu-95?
Nếu xét theo tuổi đời khung thân, B-52 và Tu-95MS đều đã vượt rất xa vòng đời mà các nhà thiết kế ban đầu có thể dự tính. Với B-52, khoảng cách giữa tuổi thọ thiết kế và thời gian phục vụ thực tế đặc biệt rõ rệt. Khi được đưa vào biên chế năm 1955, B-52 được tính toán với vòng đời khoảng 20 năm. Tuy nhiên, hơn 70 năm sau, loại máy bay này vẫn đang hoạt động và được Mỹ dự kiến duy trì đến năm 2050. Điều tương tự cũng diễn ra với Tu-95MS. Phiên bản này được sản xuất từ đầu thập niên 1980 và dự kiến sẽ phục vụ trong quân đội Nga ít nhất đến 2040. Việc hai dòng máy bay tiếp tục được duy trì không chỉ dựa vào tuổi thọ của khung thân ổn định, mà còn nhờ khả năng liên tục thay thế, nâng cấp các hệ thống bên trong để đáp ứng yêu cầu.
Điều này có thể được giải thích một phần từ cách hai lực lượng không quân phân chia nhiệm vụ giữa các nền tảng. B-52 và Tu-95 không còn phải đảm nhiệm mọi yêu cầu đặt ra đối với một máy bay ném bom chiến lược. Những nhiệm vụ đòi hỏi khả năng tiếp cận các khu vực được phòng thủ nghiêm ngặt có thể được giao cho những nền tảng được thiết kế chuyên biệt hơn. Với Mỹ, đó là B-2 và B-1B. Với Nga, Tu-160 với khả năng tàng hình và bay siêu âm đảm nhận các nhiệm vụ mà Tu-95MS không thực hiện được.
Nhờ cách phân công này, sự xuất hiện của một mẫu máy bay hiện đại hơn không nhất thiết đồng nghĩa với việc mẫu cũ phải lập tức rút khỏi biên chế. Máy bay mới có thể đảm nhận những nhiệm vụ mà nền tảng cũ không còn phù hợp, trong khi máy bay cũ tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ mà nó vẫn đáp ứng tốt.
Theo New York Times, Mỹ hiện đang phát triển nguyên mẫu oanh tạc cơ thế hệ mới B-21 Raider, nhưng nhiệm vụ của nó là thay thế 2 mẫu oanh tạc cơ B-2 và B-1B chứ không phải B-52. "B-21 Raider sẽ là máy bay ném bom tàng hình tấn công xuyên phá đa năng, có khả năng mang cả vũ khí thông thường và hạt nhân. B-21 sẽ tạo thành xương sống của lực lượng máy bay ném bom tương lai của không quân, bao gồm các máy bay B-21 và B-52", Không quân Mỹ tuyên bố. Theo truyền thông Mỹ, B-21 có kích thước nhỏ hơn B-52 với sải cánh dưới 40m, chiều dài 16m, nhỏ hơn nhiều B-52.
Tuy nhiên, việc tiếp tục sử dụng và đầu tư cho B-52 không đồng nghĩa Mỹ chưa tính đến phương án thay thế. Trong đề xuất ngân sách tài khóa 2027, Không quân Mỹ đã đề xuất chi kinh phí để tiến hành Đánh giá các phương án đối với máy bay ném bom hạng nặng mới (AoA). Theo tài liệu ngân sách, đánh giá này nhằm xem xét các yêu cầu tấn công tầm xa trong tương lai, từ đó xác định yêu cầu và chi phí đối với B-52 trong tương lai và khả năng phát triển một cấu hình máy bay ném bom hạng nặng mới.
Theo tài liệu Không quân Mỹ, phần việc trong tài khóa 2027 sẽ tập trung xây dựng các thông số hiệu suất chủ chốt, những thuộc tính chính của hệ thống, yêu cầu chương trình, năng lực và các phương án nhà cung cấp có thể được lựa chọn trong tương lai. Trước đó, tài khóa 2025 từng có khoản 4 triệu USD cho cùng hạng mục, được sử dụng để hỗ trợ một cuộc trình diễn thử nghiệm "khái niệm mật" trên B-52. Tuy nhiên, các tài liệu ngân sách công khai hiện không cho biết kết quả cụ thể của cuộc thử nghiệm này cũng như liệu nó có dẫn tới một cấu hình máy bay mới hay không.
"Trong suốt lịch sử hoạt động của Không quân Mỹ, ngoại trừ 5 năm đầu tiên, luôn có sự hiện diện của B-52", Tướng Anthony J. Cotton, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Tấn công Toàn cầu Không quân Mỹ, mới đây phát biểu. "Và hãy đoán xem B-52 sẽ tiếp tục được duy trì đến năm 2050. Vì vậy, những nỗ lực hiện đại hóa B-52 đang được triển khai sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với năng lực răn đe chiến lược".
Khác với cách tiếp cận của Mỹ, Nga đang phát triển mẫu oanh tạc cơ mang tên PAK DA nhằm đồng thời thay thế Tu-95 và Tu-160 trong tương lai. Thiết kế sơ bộ của PAK-DA được phê duyệt hồi tháng 2/2019, thông số kỹ thuật của oanh tạc cơ được thông qua sau đó 6 tháng. Bộ Quốc phòng Nga từng thông báo oanh tạc cơ PAK-DA nằm trong danh sách vũ khí chiến lược được bàn giao trong giai đoạn 2020-2027 nhưng có vẻ lịch trình này bị lùi do tác động của cuộc xung đột ở Ukraine.
Theo truyền thông Nga, PAK DA có kích thước gấp đôi so với B-21 Raider của Mỹ. Moskva tiết lộ, mẫu oanh tạc cơ này có tầm bay dự kiến 15.000 km và khả năng mang tải trọng từ 30 đến 45 tấn, bao gồm cả vũ khí thông thường, vũ khí hạt nhân và các tên lửa siêu vượt âm. "Các nguyên mẫu kích thước thật và các linh kiện riêng lẻ trên mẫu oanh tạc cơ này đã trải qua thử nghiệm để đánh giá khả năng phản xạ radar của nó. Khả năng phản xạ radar (RCS) cực thấp của PAK DA đã được xác nhận", nguồn tin của thông tấn Nga RiaNovosti từng xác nhận cách đây không lâu. "Đây chính là yếu tố cho phép máy bay, khi áp dụng một số chiến thuật nhất định, có thể xâm nhập phòng tuyến đối phương mà không bị phát hiện, bao gồm phòng tuyến của NATO".