1.Ở tuổi xế chiều, tình yêu của ông bà vẫn bền bỉ và tha thiết. Thuở ban đầu của những năm đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, có một chuyện tình giữa nội đô Sài Gòn của chiến sĩ biệt động Trương Thanh Danh và cô giao liên, tuyên truyền Lê Tú Cẩm. Tình yêu của họ không được viết bởi những cánh thư hay những lời thương, mà dệt nên bởi năm tháng dài thủy chung chờ đợi.
Bà Lê Tú Cẩm sinh năm 1948, trong gia đình trí thức tại vùng Bình Đông (quận 8 cũ, TP Hồ Chí Minh). Ba mất sớm, má ở vậy nuôi con, hai chị em Tú Cẩm đều học tại Trường Gia Long (nay là Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai). Thế nhưng, tâm hồn nhạy cảm của thiếu nữ sống trong xã hội giao thời giữa hai cuộc chiến tranh đã không thể làm ngơ trước cảnh đất nước bị xâm lược và không khí đấu tranh sục sôi của tuổi trẻ đô thị. Dưới sự dẫn dắt của người chị học cùng trường là Hoàng Thị Kim Dung, Lê Tú Cẩm sớm tham gia hoạt động cách mạng.
Từ việc rải truyền đơn, gây dựng phong trào đấu tranh công khai trong trường học, đến nhận nhiệm vụ bí mật, bà từng bước trưởng thành trong thử thách. Khi cơ sở bị lộ, tổ chức yêu cầu bà phải rời nội đô. Mẹ bà, dù trong lòng rất lo lắng và thương con gái, nhưng đã lặng lẽ tiễn con vào vùng căn cứ. Đó không chỉ là cuộc chia tay gia đình mà còn đánh dấu sự dấn thân trọn vẹn cho cách mạng của bà Lê Tú Cẩm.
“Tôi đành phải giã từ trường học, trở về căn cứ ở núi Dinh (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ). Tại đây, tôi tiếp tục học văn hóa, chính trị. Sau thời gian mất dấu, tôi trở lại nội thành tiếp tục hoạt động trong một vỏ bọc khác. Tôi không còn là học sinh Trường Gia Long nữa mà là một phụ nữ mang tên Chín Anh, Tám Hiếu làm đủ thứ nghề để hoạt động cách mạng trong nội đô”. bà Lê Tú Cẩm kể.
Trong thời gian hoạt động bí mật giữa lòng Sài Gòn, bà Tú Cẩm gặp chiến sĩ biệt động Trương Thanh Danh, Chính trị viên Đội võ trang Nguyễn Văn Trỗi (đơn vị biệt động và vũ trang tuyên truyền trực thuộc Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định).
Ông Trương Thanh Danh sinh năm 1939, quê gốc ở Củ Chi (TP Hồ Chí Minh). Khi còn nhỏ, người chị gái của ông mới 14 tuổi đã bị địch bắn chết trong một trận càn quét dã man. Nỗi đau gia đình cùng nỗi đau dân tộc đã sớm hun đúc trong ông lòng căm thù giặc và ý chí dấn thân theo con đường cách mạng.
Lớn lên giữa vùng căn cứ, ông sớm tiếp xúc với các bậc cha anh, tham gia các hoạt động tự vệ, bảo vệ xóm làng. Đến năm 1965, khi Thành ủy thành lập Ban Quân sự thuộc Khu đoàn Thanh niên Khu Sài Gòn, Trương Thanh Danh trở thành chiến sĩ lực lượng vũ trang, trực tiếp tham gia những trận đánh giữa lòng đô thị.
Trên cương vị Chủ tịch Hội Di sản TP Hồ Chí Minh, bà Lê Tú Cẩm là cầu nối giúp gìn giữ các di tích văn hóa, lịch sử
Những năm tháng hoạt động, chiến đấu trong khu vực nội thành, ông Danh nghe đồng đội kể về Tú Cẩm. Mặc dù chưa biết mặt nhưng ông đã mến mộ khí phách của người con gái nhỏ hơn mình 9 tuổi. “Lần gặp mặt đầu tiên với người thương đúng dịp tôi đang đi công tác trên đường. Khi hai người lướt qua nhau, dù chưa từng gặp gỡ nhưng trái tim tôi rộn ràng khó tả. Tôi nhìn thoáng qua, thấy đôi mắt to đen của cô ấy, khuôn mặt trắng hồng lấp ló trong lớp khăn rằn. Hình ảnh ấy khiến tôi vừa hồi hộp lại xao xuyến lạ thường. Vì ngại ngùng nên cả hai đều làm ngơ, tôi cũng tỏ ra không quen biết và đạp xe đi thẳng. Đi một đoạn xa, tôi mới ngoái lại nhìn trộm”, ông Danh nhớ lại giây phút chạm mặt người bạn đời sau này.
Từ cuộc gặp mặt không chính thức ngoài đường, hình ảnh về cô gái tên Tú Cẩm luôn in đậm trong tâm trí ông. Tình cảm ấy ban đầu chỉ là sự cảm mến kín đáo. Mối duyên của họ thực sự nhen lên từ những ngày ở căn cứ Củ Chi. Vì yêu cầu bí mật, họ ít có cơ hội chuyện trò, chỉ gặp nhau trong những lần công tác ngắn ngủi. Cơ duyên hiếm hoi mang hai con người xích lại gần nhau chính là họ cùng đi học lớp chỉnh huấn tại căn cứ ở Bình Dương. 10 ngày học tập đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất với ông Danh, khi mỗi ngày đều được chở người thương trên xe đạp.
“Chúng tôi thương nhau để trong lòng, không ai dám nói lời yêu, cũng không hứa hẹn ngày hạnh phúc, bởi ai cũng biết, chiến tranh quá khốc liệt, chẳng biết ngày mai ai còn ai mất”, bà Tú Cẩm kể về tình yêu với ông Danh.
Tháng 9/1965, ông Trương Thanh Danh bị địch bắt giam, tra tấn cùng cực tại các nhà lao. Ngày 17/11/1967, ông Danh cùng 2 chiến sĩ khác là Lê Minh Châu, Bùi Văn Chiếu bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa tuyên án tử hình. “Chúng tôi mang án tử trên đầu, chờ ngày ra pháp trường. Tuy nhiên, sau đó phía ta gây sức ép, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải hoãn thi hành án vô thời hạn. Nhờ đó mà chúng tôi thoát chết”, ông Danh kể những ngày sống chung với án tử trong nhà lao.
Ông Trương Thanh Danh và bà Lê Tú Cẩm với hạnh phúc tuổi già
Trong những ngày bị giam cầm tại nhà tù Chí Hòa, hình ảnh người con gái mình quý mến và niềm tin vào ngày đoàn tụ đã trở thành động lực lớn cho ông Danh. Ông tỉ mỉ mài mảnh gáo dừa khô thành một chiếc nhẫn cưới. Bao lần bị đày ải qua các nhà tù, từ đất liền ra Côn Đảo, bao phen bị khám xét vật dụng, ông vẫn tìm mọi cách giữ gìn chiếc nhẫn suốt 10 năm trời như một báu vật và lời hẹn ước thầm lặng với tương lai.
2.Về phần bà Tú Cẩm, nhận được tin ông Danh bị địch xử mức án cao nhất, tim bà như nghẹt thở, thấy trong lòng mình mất mát to lớn, dù khi ấy chưa thể gọi thành tên. “Ông chưa bao giờ nói lời yêu thương hay hứa hẹn với tôi, nhưng tình cảm của ông, tôi đã cảm nhận được. Tôi mến mộ khí phách hiên ngang của một thanh niên yêu nước, yêu ý chí kiên cường của ông ấy”, bà Tú Cẩm chia sẻ. Dù biết tin người thương đang mang án tử và cái chết sẽ đến bất cứ lúc nào, nhưng bà Tú Cẩm vẫn một lòng hy vọng và chờ đợi.
Đầu năm 1968, ông Danh bị đưa ra nhà tù ở Côn Đảo. Từ đây, ông cùng các đồng đội là tử tù đã sát cánh bên nhau trong một cuộc đấu tranh mới chống lại chế độ hà khắc của nhà tù. “Ở Côn Đảo, dù là tử tù nhưng chúng tôi vẫn tin rằng sẽ có người sống sót trở về. Vì vậy, chúng tôi luôn tự dặn nhau rằng phải giữ vững khí tiết, địch có thể tra tấn, hành hạ về thể xác nhưng không để chúng lung lạc về tinh thần, khuất phục về ý chí. Chúng tôi gõ vào vách đá theo kiểu tín hiệu morse để truyền tin, động viên nhau giữ vững tinh thần đấu tranh”, cựu tù Trương Thanh Danh kể về những năm tháng trong lao tù Côn Đảo.
Ở nội thành Sài Gòn, năm 1967, bà Tú Cẩm cũng bị địch bắt giam khi đang là Bí thư Quận đoàn quận 6. Sau lần bị bắt đầu tiên, chỉ lĩnh án tù treo, bà trở về lập tức liên lạc lại với tổ chức để tiếp tục hoạt động. Không lâu sau, bà bị bắt lần thứ hai, bị đưa từ Nha Cảnh sát Đô thành đến nhà tù Thủ Đức. Dù chịu đựng những đòn tra tấn tàn khốc, bà vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo và cuối cùng cũng bị đày ra Côn Đảo, năm 1969.
Bà Lê Tú Cẩm bên tủ sách gia đình
Biết người thương cũng đang ở “địa ngục trần gian”, bà Tú Cẩm có thêm động lực và niềm tin để sống và chiến đấu, nuôi dưỡng hy vọng về ngày hòa bình, thống nhất. Bà cùng các nữ tù chính trị đã biến nhà tù thành trường học cách mạng. Họ học chính trị, văn hóa, học hát, học thêu... sưởi ấm, chở che nhau bằng tình chị em, tình đồng chí. Bà trở thành cô giáo dạy Toán, Văn cho chị em trong ngục tù.
Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà Tú Cẩm và ông Danh gặp lại nhau giữa Sài Gòn rợp cờ hoa. Đó là cuộc hội ngộ sau 10 năm đằng đẵng của những người đã đi qua cái chết và sự chia cắt. Ngày gặp lại, ông Danh đã trao chiếc nhẫn làm từ mảnh gáo dừa minh chứng cho tình yêu, lòng chung thủy cho bà Tú Cẩm. Cuối năm 1975, họ chính thức về chung một nhà.
Cưới được 3 ngày, bà Tú Cẩm được tổ chức chọn ra Hà Nội học lớp tuyên huấn trong thời gian 3 năm. Tình yêu của họ tiếp tục bị chia cách. Vì công việc chung của đất nước, mọi liên lạc chính đều qua thư tay. Đến năm 1978, ông bà sinh người con trai đầu lòng.
Những ngày mới giải phóng, đất nước còn khó khăn, ông Danh, bà Cẩm đều giữ những trọng trách của thành phố. Năm 1992, ông Danh về làm ở Sở Thương mại TP Hồ Chí Minh đến khi nghỉ hưu. Còn bà Lê Tú Cẩm từng giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin TP Hồ Chí Minh. Tháng ngày nghỉ hưu, bà Tú Cẩm vẫn miệt mài công tác tại Hội Di sản TP Hồ Chí Minh. Trên cương vị là chủ tịch hội, bà là cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà nước, các chuyên gia và cộng đồng trong việc bảo vệ các di tích văn hóa, lịch sử, gìn giữ ký ức đô thị qua khảo cổ, điền dã, số hóa và các hoạt động cộng đồng giữa dòng chảy hiện đại.