Những ký ức không phai
PGS.TS Nguyễn Thị Huệ, Nhà giáo Ưu tú, nguyên Trưởng khoa Bảo tàng, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, nhớ lại quãng thời gian từ năm 1965 đến năm 1968, khi bà cùng các học viên của Trường Lý luận nghiệp vụ sơ tán về Yên Dũng, Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Lớp học nằm dưới lòng đất. Bảng đen khi là tấm gỗ sơn đen, khi là tấm phên được phủ màu để thầy cô viết bài. Bà Huệ kể: “Ngày đó, sách vở, giấy bút đều thiếu. Giấy viết màu đen, một quyển vở dùng cho hai môn; phấn được phân theo tháng. Có lúc, thiếu giấy để luyện chữ Hán Nôm, chúng tôi tận dụng những thanh tre ở hàng rào để tập viết”.
Cuộc sống sinh hoạt cũng vô cùng thiếu thốn. Lớp học của bà có 22 người, trong đó 6 nữ học viên ở chung một phòng. Chăn màn không đủ; mùa đông, 6 người chỉ có 3 chiếc giường tre, phải nằm gần nhau cho đỡ rét. Bữa ăn là nỗi lo thường trực. Có tháng được ăn cơm, có tháng phải ăn bột mỳ. Khẩu phần đạm bạc, đôi khi chỉ có hai chiếc bánh cùng một bát canh rau muống. Những người làm công tác cấp dưỡng phải tự gánh than, củi từ núi về phục vụ nhà bếp. Sau giờ học, thầy trò còn tăng gia sản xuất, trồng rau, chăn gà để cải thiện đời sống. Bà Huệ nhớ lại: “Mỗi chị em được 15 đồng tiền ăn. Làm thế nào để xoay xở? Chúng tôi báo cơm 5 suất, còn một suất thì lấy tiền ra mua thêm đồ dùng của phụ nữ”.
Nhưng điều khiến bà Huệ nhớ mãi không chỉ là sự thiếu thốn, mà còn là tình cảm của người dân địa phương. Thấy học viên từ Hà Nội về sống trong cảnh khó khăn, bà con có khoai, sắn lại luộc mang sang cho. Các học viên đùm bọc, yêu thương nhau. Người học nhanh giúp người học chậm; các nhóm học tập được tổ chức để bổ sung kiến thức cho nhau. Trình độ đầu vào không đồng đều, có người mới học hết lớp 6, lớp 7, lớp 8, nhưng tất cả đều cố gắng, hỗ trợ nhau cùng tiến bộ. Năm 1968, sau khi hoàn thành chương trình trung cấp, bà Huệ trở thành cán bộ giảng dạy. Năm 1971, bà thi đỗ đại học và sang Liên Xô tiếp tục học tập.
Tại buổi tọa đàm, thầy giáo Bùi Dương Hòa cũng xúc động kể về những năm tháng gian khó. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1972, thầy về dạy học tại Yên Thế, Hà Bắc (Bắc Ninh bây giờ). Trong ký ức của thầy, những lớp học ở vùng sơ tán và miền núi thường rất đơn sơ, thiếu thốn, nhưng vẫn được duy trì. Đó là minh chứng cho nỗ lực của giáo viên và học sinh nhằm bảo đảm việc học tập giữa chiến tranh.
Nhắc đến lựa chọn nghề nghiệp của mình, thầy Hòa dẫn câu nói: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết dành phần ai”. Đó cũng là cách thầy lý giải cho những năm tháng chấp nhận xa gia đình, đến với học trò ở những vùng sâu, vùng xa để truyền dạy tri thức. Với tinh thần “Ba sẵn sàng”, trong điều kiện thiếu thốn, người thầy dạy Hóa học Bùi Dương Hòa đã tìm cách giúp học sinh ghi nhớ kiến thức bằng những bài ca, bài thơ. Các bài học về hóa trị, đồng đẳng, đồng phân được chuyển thành những câu dễ nhớ, giúp học sinh tiếp thu kiến thức thuận lợi hơn.
Nếu ký ức của bà Huệ gắn với hành trình học tập giữa vùng sơ tán, thì với ông Nguyễn Ngọc Long, nguyên học sinh Trường Tiểu học Cát Linh, những năm tháng ấy trở về qua những hình ảnh của tuổi thơ. Khi còn nhỏ, ông theo gia đình và bà ngoại đi sơ tán, rồi học tập tại khu vực Chương Mỹ, gần chùa Trăm Gian.
Lớp học khi ấy có thể là những căn nhà tranh mái lá hoặc nhà dân được tận dụng làm nơi dạy học. Có lớp đông tới 40 - 50 học sinh. Nhiều bạn nhỏ ở nông thôn còn thiếu cả quần áo ấm lẫn giày dép; học sinh Hà Nội cũng phải làm quen với điều kiện sống khác hẳn nơi phố thị. Bên cạnh giờ học, ông Long nhớ những ngày được các bạn nông thôn dẫn đi khám phá đồng ruộng, bắt châu chấu, mò cua, bắt ốc và học cách làm đồ chơi từ những vật liệu sẵn có. Những trải nghiệm ấy đã trở thành một phần ký ức của cậu học trò Hà Nội trong những ngày sơ tán.
Trong ký ức của ông Long, tiếng máy bay phản lực là âm thanh đặc biệt ám ảnh. Mỗi khi có báo động, giờ học có thể bị gián đoạn, thầy cô và học sinh phải nhanh chóng tìm nơi trú ẩn. Các cô giáo không chỉ giảng bài mà còn hướng dẫn học sinh cách phòng tránh nguy hiểm, sơ cứu, đan mũ rơm và thực hiện những kỹ năng cần thiết trong thời chiến. Nhưng tuổi thơ trong chiến tranh không chỉ có nỗi sợ hãi. Ông Long vẫn nhớ những bài giảng sinh động của các thầy cô từ Hà Nội về sơ tán và tình cảm ấm áp của người dân địa phương. Những gia đình vốn không dư dả vẫn sẵn lòng chia sẻ chỗ ở, bữa ăn, nước sinh hoạt và vật dụng với người từ thành phố về.
Đặc biệt, ông Long nhớ những đêm cuối tháng 12/1972, khi đang ở vùng sơ tán và nhìn về Hà Nội. “Trong đêm tối, cả Hà Nội sáng rực như một chảo lửa khổng lồ. Tiếng bom, tiếng máy bay B-52 gầm rú trên bầu trời”, ông kể. Sau khi trở về Hà Nội, ông chứng kiến khu phố Khâm Thiên, nơi gia đình sinh sống, bị bom đạn tàn phá.
Qua những câu chuyện cụ thể của các nhân chứng, có thể thấy một giai đoạn đặc biệt của giáo dục Thủ đô: trường lớp phải sơ tán, nhưng việc dạy và học vẫn được duy trì giữa hoàn cảnh chiến tranh. Những ký ức về lớp học, sinh hoạt, ăn ở cùng những khó khăn mà thầy trò trải qua đã góp phần làm rõ một lát cắt của đời sống giáo dục Hà Nội trong những năm tháng ấy.
Giữ ký ức để hiểu về giá trị hôm nay
Tại Bảo tàng Hà Nội, công chúng còn được xem ảnh, phim tư liệu, tìm hiểu không gian “Lớp học thời chiến”, trải nghiệm làm mũ rơm và tìm hiểu cấu tạo hầm trú ẩn chữ A. Những hoạt động này giúp người tham dự, đặc biệt là học sinh, sinh viên, hình dung cụ thể hơn về điều kiện học tập và sinh hoạt của các thế hệ đi trước.
Theo thông tin từ Bảo tàng Hà Nội, chương trình còn hướng tới việc ghi âm, ghi hình lời kể của nhân chứng; tiếp nhận hình ảnh, giấy tờ, sách vở, giáo án và những hiện vật liên quan đến trường học, lớp học, đời sống sơ tán. Đây là nguồn tư liệu quan trọng, góp phần bổ sung cho công tác nghiên cứu, lưu trữ, trưng bày và giáo dục lịch sử. Đây là cách làm mới của Bảo tàng để thu hút khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ quan tâm đến lịch sử. Vì thế, “Lớp học thời chiến - Ký ức vùng sơ tán” không chỉ là cuộc gặp gỡ của những người từng đi qua chiến tranh.
Nó còn là dịp để ký ức cá nhân trở thành ký ức cộng đồng, để những câu chuyện đời thường góp phần làm sáng rõ lịch sử giáo dục và đời sống Hà Nội. Rõ ràng, lịch sử không chỉ là những con số, những dòng chữ khô khan nằm trong sách giáo khoa. Lịch sử còn hiện lên sống động qua những câu chuyện có thể nhìn thấy, chạm vào và cảm nhận. Qua đó, thế hệ trẻ hôm nay có thêm cơ hội hiểu sâu hơn về cuộc sống của các thế hệ đi trước, đồng thời biết trân trọng giá trị của hòa bình và những điều mình đang có.