Cầu Waterloo đầu tiên là một thảm họa tài chính
Những người chịu trách nhiệm xây cây cầu Waterloo đầu tiên nhằm mục đích thu lại số tiền đã chi bằng cách thu phí người đi qua cầu. Các cầu bên cạnh Blackfriars hoặc cầu Westminster đều miễn phí. Cầu Waterloo miễn phí cho khách vào năm 1877, khi cây cầu được Hội đồng Công trình Metropolitan mua lại với chi phí 474.200 bảng Anh so với chi phí xây dựng ban đầu là hơn 937.391 bảng.
Đó là “cây cầu cao quý nhất thế giới”.
Mặc dù gặp rắc rối về tài chính, nhưng cây cầu Waterloo đầu tiên là một công trình kiến trúc thú vị. John Rennie đã thiết kế 9 mái vòm bán elip 120 feet (1f = 30.48 cm) bằng đá granit Cornish đã được rất nhiều người ngưỡng mộ và khá đẹp.
Nhà điêu khắc người Ý Canova gọi Waterloo là "cây cầu cao quý nhất trên thế giới" và nói rằng "đáng đến Anh chỉ để xem cây cầu của Rennie". Vào thời điểm đó, hầu hết những người Anh giàu có đổ đến Ý để mong muốn thay đổi kiến trúc và văn hóa Grand Tour của họ. Sự đơn giản có phần đơn điệu của cầu đã truyền cảm hứng cho rất nhiều bức tranh. John Constable đã ghi lại sự phấn khích của lễ khánh thành cây cầu trong một bức tranh khổng lồ hiện được tìm thấy ở Tate Britain; Claude Monet đã vẽ cây cầu không dưới 40 lần từ vị trí thuận lợi của cửa sổ tại khách sạn Savoy.
Cầu Waterloo được đặt tên cho một nhà ga và một chiếc mũ vương miện
Ga Waterloo từng được gọi là “ga Cầu Waterloo” khi bắt đầu mở cửa vào năm 1848. Tên của nó chính thức được đổi thành Ga Waterloo gần 40 năm sau vào năm 1886. Năm 1868, một chiếc mũ vương miện thời kỳ Đồ sắt đã được tìm thấy khi nạo vét từ sông Thames gần cầu Waterloo.
Chiếc mũ vương miện, một báu vật nghi lễ bằng đồng của người Celt thời tiền La Mã có niên đại từ khoảng 150-50 trước Công nguyên, là chiếc mũ vương miện có sừng duy nhất của thời đại đồ sắt được tìm thấy trên toàn châu Âu; ngày nay, mọi người có thể nhìn thấy mũ vương miện cầu Waterloo trong Bảo tàng Anh.
Cầu là đề tài nóng hổi về mặt chính trị
Đến năm 1924, cây cầu bắt đầu cũ kỹ, được thiết kế cho xe ngựa đi qua, nhưng vẫn đang tải trọng các loại xe cơ giới hạng nặng khiến nó ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Một tranh luận chính trị về tương lai của cầu Waterloo đã nổ ra, và kéo dài trong 10 năm. Một bên là các kỹ sư và nhà thực hành tại Hội đồng Quận London (LCC), những người muốn xây một cây cầu mới, sẵn sàng cho giao thông hiện đại; bên khác là những người bảo thủ (bao gồm một nhóm tại Học viện Hoàng gia) tận tâm bảo tồn cây cầu xinh đẹp của Rennie vì lý do lịch sử và văn hóa.
Khi đảng Lao động giành quyền kiểm soát LCC vào năm 1934 dưới thời Herbert Morrison, mọi cân nhắc về vẻ đẹp kiến trúc của cây cầu cũ đều bị bỏ qua: Morrison thông báo quyết định phá bỏ cây cầu cũ bằng cách tự mình phá bỏ viên đá đầu tiên vào ngày 21/6/1934.
Cầu Waterloo hơi khó làm
Cầu Waterloo bắc qua sông ngày nay được thiết kế bởi Giles Gilbert Scott, cùng một người quản lý Nhà máy điện Battersea, Nhà máy điện Bankside (nay là Tate Modern) và những chiếc buồng điện thoại màu đỏ cổ điển. Scott không phải là một kỹ sư, và các thiết kế của ông ta (dầm bê tông cốt thép dưới chân, với các đường được hỗ trợ bởi các tấm chắn ngang), thực sự rất khó thực hiện.
Cầu Waterloo bao gồm 5 nhịp nông, mỗi nhịp dài khoảng 250 feet, với một mặt cầu có dầm được hỗ trợ bởi hai đường vòm. Giống như cây cầu Waterloo đầu tiên, cây cầu hiện đại vẫn giữ được phong cách sang trọng “khắc khổ” nhất định.
Có biệt danh là cầu Quý bà...
Hầu hết mọi người đều biết đến Cầu Waterloo có biệt danh là Cầu Quý bà vì cầu được lực lượng lao động phần lớn là phụ nữ trong chiến tranh xây lên.
Khi cầu Waterloo bắc qua sông Thames, Anh khánh thành vào tháng 12/1945, Phó Thủ tướng Herbert Morrison đã phát biểu trong lễ khánh thành: Những người đàn ông xây cầu Waterloo là những người may mắn. Họ biết rằng mặc dù tên của họ có thể bị lãng quên, nhưng công việc của họ sẽ là niềm tự hào cho London sau nhiều thế hệ. Mặc dù có ý nghĩa tốt, nhưng điều mà Morrison không thừa nhận là một số lượng đáng kể công nhân xây dựng cây cầu thực sự là phụ nữ.
Cầu Waterloo được coi là một trong những cây cầu đẹp nhất ở London. Nằm ở vị trí chiến lược trên một khúc quanh của sông, cây cầu cho phép bạn có tầm nhìn tuyệt vời ra Westminster, Bờ Nam và London Eye ở phía Tây của thành phố London và Canary Wharf ở phía Đông. Mặc dù tên của cầu nhằm kỷ niệm chiến thắng của người Anh trước người Pháp trong trận chiến Waterloo, cho đến ngày nay cây cầu vẫn được gọi một cách thông dụng là "Cầu Quý bà”.
Vào thời điểm chiến tranh thế giới II nổ ra vào năm 1939, một phần lớn của cây cầu đã được hoàn thành. Nhưng sau đó, những người đàn ông được gọi đi tham gia chiến sự và vị trí mà họ bỏ trống đã được phụ nữ đảm nhận. Từ 500 người đàn ông được cho là đã làm việc trên cây cầu vào năm 1939, số lượng của họ giảm xuống chỉ còn 50 người vào năm 1941. Thật khó để ước tính tỷ lệ lực lượng lao động là nữ, nhưng theo Hiệp hội Kỹ thuật Phụ nữ có trụ sở tại Anh, khoảng 350 phụ nữ có thể đã làm việc trên cầu Waterloo.
Có rất ít tài liệu ghi chép về những người phụ nữ đã giúp xây dựng cây cầu. Kể từ khi nhà thầu xây dựng Peter Lind & Company thanh lý tài sản của mình vào những năm 1980, hồ sơ việc làm của công ty đã biến mất. Nhưng nhờ những nỗ lực điều tra của nhà sử học Christine Wall, giờ đây mọi người đã có một số bức ảnh. Wall cũng hợp tác với nhà làm phim Karen Livesey và tạo ra một bộ phim tài liệu mang tên The Ladies Bridge, khám phá những câu chuyện về những người phụ nữ làm việc trên cầu Waterloo và trực tiếp ghi lại trải nghiệm của nhiều nữ công nhân thời chiến.
Nỗ lực của phụ nữ hiện đã chính thức được thừa nhận: đã có kế hoạch xây dựng một tấm bảng để tôn vinh họ.
Cầu Waterloo tự làm sạch
Nhiều người đã từng thắc mắc tại sao bên ngoài của cầu Waterloo lại sáng bóng và sạch sẽ như vậy, nhưng bên dưới lại xám xịt và đen kịt ... thì, tất cả là do đá Portland tạo ra.
Những vở kịch và bộ phim cùng tên
Vở kịch Waterloo Bridge (1930) của Robert E Sherwood là câu chuyện về một người lính yêu và kết hôn với một người phụ nữ mà anh ta gặp trên cầu Waterloo trong một cuộc không kích ở Thế chiến thứ nhất. Đó là một câu chuyện phổ biến đến nỗi, đã được dựng thành 3 bộ phim riêng biệt, phát hành vào các năm 1931, 1940 và 1956; phiên bản thứ hai trong số các phim về đề tài này có sự tham gia của Vivien Leigh và Robert Taylor, và được đề cử giải Oscar.