B-52 Stratofortress - đối trọng của Mỹ với Liên Xô
Ngay sau nửa đêm ngày 24/1/1961, Billy Reeves, cư dân bang North Carolina, lúc đó mới 18 tuổi làm ca đêm trở về thì bỗng dưng nghe thấy tiếng nổ ánh sáng chói lòa khi một chiếc B-52 nổ và rơi từ trên trời xuống. Từ cửa sổ phòng ngủ, Reeves đã tận mắt trông thấy pháo đài bay B-52 lộn nhào trước khi cắm xuống đất ngay gần nhà ông.
Hai quả bom này được quân đội Mỹ gọi là "Broken Arrow" (mũi tên gãy), thuật ngữ chỉ các loại vũ khí hạt nhân bị thất lạc có nguy cơ phát nổ. Chúng không rơi xuống một cách ngẫu nhiên mà đúng hơn là sản phẩm của một chiến lược thời Chiến tranh lạnh của Mỹ. Nếu kích nổ, thảm họa gấp hàng trăm lần so với hai quả bom Mỹ ném xuống Nhật Bản trước khi Thế chiến II kết thúc.
Đến đầu thập niên 60, B-52 Stratofortress đã trở thành máy bay ném bom được Mỹ tin dùng để thực thi tham vọng răn đe hạt nhân. Dòng máy bay này thực hiện chuyến bay đầu tiên năm 1952, được USAF sử dụng để ném bom cho đến tận ngày nay. Trong khi quân đội Mỹ nỗ lực thay bằng thế hệ tàng hình B-21 Raider, thì vẫn có tới 76 chiếc Stratofortress hiện đang tại ngũ và dự kiến sẽ tồn tại hơn 40 năm nữa.
Joel Dobson, cựu quân nhân USAF trong cuốn “The Goldsboro Broken Arrow” (Sự cố mũi tên gãy Goldsboro) đã ghi lại chi tiết, đầy đủ nhất về vụ tai nạn này cũng như những hệ quả sau đó. "Chỉ riêng tuổi thọ hoạt động, có lẽ đây là loại máy bay quân sự thành công và đa năng nhất trong lịch sử không quân Hoa Kỳ xưa và nay".
Các phi công Mỹ đã đặt cho B-52 Stratofortress biệt danh BUFF (Big Ugly Fat Fellow (tạm dịch: Gã to xác, xấu xí và béo phì), sản phẩm của Boeing, dài 49 mét, sải cánh rộng 56m. Khi mang đủ tải, máy bay nặng gần khoảng 221 tấn, chứa nhiên liệu cho 8 động cơ phản lực, có thể chở tới 32 tấn bom. Nó thuộc dòng máy bay ném bom chiến lược có khả năng hủy diệt diện rộng nên đôi khi còn được gọi là “pháo đài bay”.
Theo Dobson, vào thời kỳ đỉnh cao, phi đội của SAC có tới 2.921 máy bay ném bom và máy bay tiếp nhiên liệu; tất cả đều được huấn luyện để tấn công ít nhất 2.600 mục tiêu cùng kho vũ khí 22.229 quả bom hạt nhân trong khi đó Liên Xô chỉ có 1.060 quả bom cùng loại.
Diễn biến vụ tai nạn
Theo Joel Dobson, phi hành đoàn R-10 ở căn cứ Seymour Johnson gồm 8 người, có nhiệm vụ bay 25 giờ không nghỉ trên Đại Tây Dương, ngay sát bờ biển North Carolina, để chứng minh khả năng bay tầm xa trong khuôn khổ chiến dịch Chrome Dome.
B-52 Stratofortress không phải là phương tiện bay dễ chịu, Joel Dobson ví ngồi trên pháo đài bay "ngốn" nhiên liệu khủng này không khác gì ngồi trên xe tải đường đầy ổ gà. Trong khoang chứa là hai quả bom nhiệt hạch Mk 39 Mod 2, mỗi quả nặng trên 3 tấn, dài 3,3 mét, có sức công phá 3,8 megaton, gấp 240 lần quả bom Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945.
Bản thân bom nhiệt hạch không tự kích hoạt nếu chỉ rơi khỏi máy bay. Quy trình kích hoạt gồm ít nhất 6 bước trước khi được xác nhận. Chỉ sau khi hoàn tất các bước này, sĩ quan dẫn đường radar mới ngắt một sợi dây an toàn, cơ chế điều khiển mà Joel Dobson mô tả là thiết bị duy nhất trên máy bay đòi hỏi phải dùng cả hai tay để vận hành. Một khi sợi dây này bị ngắt, dòng điện 28V sẽ được truyền đến công tắc Arm/Safe (Kích hoạt/An toàn) MC-772 trên mỗi quả bom.
Walter Tulloch, cơ trưởng B-52, cùng phi hành đoàn đã có một chuyến bay diễn ra suôn sẻ cho đến 9 giờ tối ngày 23/1. Chiếc B-52 đang bay ở độ cao khoảng 8.800 mét trên bầu trời South Carolina, thì tiếp cận vị trí tiếp nhiên liệu lần thứ hai. Trong quá trình tiếp nhiên liệu, người vận hành tiếp dầu đã phát hiện thấy nhiên liệu rò rỉ từ cánh phải của B-52. Nhiên liệu bắt đầu tràn vào khoang chứa, phần bụng và các thiết bị điện bên trong máy bay.
Ngay sau đó, Tulloch còn phát hiện thêm một sự cố khác, các máy bơm nhiên liệu không hoạt động. Thay vì cố gắng hạ cánh khẩn cấp khi bình nhiên liệu vẫn đầy, Tulloch đã lái B-52 ra vùng biển cách Wilmington, North Carolina khoảng 30 phút bay về phía đông để giảm bớt nhiên liệu, sau đó bay lượn nhiều vòng liên tiếp. Sau khi liên lạc qua vô tuyến với chỉ huy tại căn cứ Seymour Johnson, Tulloch mới quay trở lại căn cứ. Điều mà Tulloch không hay biết là một lỗ thủng đang hình thành trên cánh phải máy bay. Vài tuần trước đó, USAF và Boeing đã nhận thấy việc lắp đặt các túi chứa nhiên liệu bên trong cánh máy bay B-52 tạo ra kết cấu cánh chứa nhiên liệu trực tiếp (hay còn gọi là "cánh ướt"), có nguy cơ gây ra các vết nứt hoặc vết rách nghiêm trọng. Theo một tài liệu mật được công bố vào năm 2014, đây chính là sự cố gây thảm họa chính.
Chỉ cách căn cứ chừng 25 km, Tulloch thực hiện cú ngoặt cuối cùng để vào vị trí tiếp cận hạ cánh. Ngay sau đó, điều được Dobson mô tả là “máy bay chao nghiêng sang phải một cách bất thường, cánh phải bắt đầu gập lại, mất lái hoàn toàn”. Ngay lập tức Tulloch hô “nhảy dù”, trong 8 người trên máy bay thì có 5 tiếp đất an toàn. Người thứ 6 thoát được khỏi máy bay nhưng không sống sót, 2 người còn lại thiệt mạng, máy bay vỡ toác, cả 2 quả Mk 39 Mod 2 đều rơi khỏi máy bay, lúc đó là 12 giờ 35 phút sáng ngày 24/1/1961.
Cơn ác mộng dưới mặt đất
Ngay sau khi sự cố xảy ra, lực lượng hỗ trợ của USAF đã có mặt vào lúc 8h30’ sáng ngày 24/1. Nhiệm vụ chính là vô hiệu hóa và đảm bảo an toàn cho cả hai quả bom hạt nhân.
Trong số hai quả, quả mắc trên cây dễ xử lý hơn. Khi đại úy ReVelle, đội trưởng cứu hộ đến kiểm tra, phát hiện thấy công tắc Arm/Safe vẫn đang ở vị trí an toàn. Vũ khí này còn nguyên vẹn, chưa được kích hoạt và ở trạng thái ổn định nên di dời dễ dàng khỏi hiện trường. Quả bom thứ hai thì khác, nó rơi xuống đất mà không có dù và cắm sâu vào lòng hố. Người ta bắt đầu khai quật và tìm thấy các mảnh vỡ của vũ khí. Đây không phải loại bom từng thả xuống Hiroshima, nó là một thiết bị nhiệt hạch, bên trong chứa một quả bom nguyên tử thông thường cùng các đồng vị plutonium và hydro. Quả bom nguyên tử đóng vai trò kích hoạt vụ nổ nhiệt hạch.
Vào ngày thứ năm của quá trình khai quật, ReVelle trèo xuống hố bùn và tìm thấy phần lõi sơ cấp của bom - thành phần phân hạch chứa plutonium và uranium cần thiết để khởi động phản ứng hạt nhân. Ông mang nó ra ngoài trong khi vẫn đeo găng tay bảo vệ. Sau đó, một kỹ thuật viên đã tìm thấy công tắc chuyển đổi trạng thái Arm/Safe của quả bom. Người ta có thể nhìn thấy một hình tam giác màu đỏ có ghi chữ "A". Đối với những người có mặt tại hiện trường, quả bom dường như đã ở trạng thái sẵn sàng kích nổ. Các phân tích sau này cho thấy 3 trong số 4 cơ chế an toàn của quả bom đã được kích hoạt. Chỉ cần thêm một cơ chế nữa thôi là bom được kích hoạt và khai hỏa hoàn toàn.
Khi phát biểu tại Đại học East Carolina năm 2013, ReVelle nói, nếu một trong hai quả bom phát nổ "sẽ tạo ra một hố bom rộng bằng tám sân bóng bầu dục, phá hủy mọi thứ trong bán kính rộng trên 6km. Tạo ra vùng tử địa với tỷ lệ tử vong 100% trải rộng theo mọi hướng, do mây phóng xạ lan truyền".
Một phần của vụ tai nạn vẫn bị chôn vùi - theo đúng nghĩa đen. Đến ngày 30/1/1961, hố 6-7 mét, rộng khoảng 15 mét và sâu 21 mét đã được đào lên. Tuy nhiên, ReVelle và các kỹ thuật viên vẫn không thể tìm thấy thành phần phân hạch thứ cấp của quả bom Mk 39. Cuối cùng, quân đội đã lấp lại, bỏ lại thành phần thứ cấp của quả bom chưa thu hồi được ở độ sâu chừng 55 mét, đồng thời trả cho người nông dân sở hữu khu đất khoản tiền 1.000 USD để mua lại quyền sử dụng khu vực này.
Goldsboro không phải là sự cố “Broken Arrow” duy nhất trong kỷ nguyên Báo động trên không (Airborne Alert). Năm 1964, một chiếc B-58 Hustler mang theo năm vũ khí nhiệt hạch đã bốc cháy tại Căn cứ Không quân Bunker Hill ở Indiana. Việc trang bị vũ khí nhiệt hạch cho máy bay ném bom đã chấm dứt vào tháng 1/968 sau khi một chiếc B-52 khác gặp nạn gần Thule, Greenland, trong khi đang mang theo 4 quả bom nhiệt hạch trên lộ trình bay mang tên “Chrome Dome”. Cả 4 quả bom hạt nhân đều bị phá hủy trong đám cháy sau đó, làm phát tán vật liệu phóng xạ lên lớp băng biển tại nơi xảy ra tai nạn.
Các báo cáo được giải mật về sự cố năm 1961 đã chỉ trích gay gắt những gì diễn ra trong đêm định mệnh đó cũng như nguyên nhân gây tai nạn. “Trước tiên, USAF đã vô tình làm lộ vị trí cất giữ vũ khí hạt nhân bí mật - trên bộ thẻ ghi nhớ (flashcard) dùng cho một nghiên cứu nguy hiểm nhất thế giới . Riêng hai quả bom Mk 39 Mod 2 không đảm bảo mức độ an toàn cần thiết. Nếu thiếu công tắc Arm/Safe thì nhiều khả năng cả hai đã phát nổ, giết chết toàn bộ 80.000 cư dân quận Wayne, North Carolina. Mọi thành tựu kỹ thuật trên đời không phải lúc nào cũng cứu được con người. Trong trường hợp này, tất cả là chỉ nhờ vào sự may mắn mà có", báo cáo giải mật của chính phủ Mỹ xác nhận.