Kế hoạch OPLAN 34A
Sau 2 năm tiến hành cuộc chiến tranh bí mật với miền Bắc, CIA vẫn không đạt được kết quả như mong muốn. Tại miền Nam, mâu thuẫn giữa Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm lên tới đỉnh điểm với cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 do một nhóm tướng lĩnh quân đội thực hiện, khiến anh em họ Ngô nhận cái chết bi thảm.
Ngày 20/11/1963, tại Honolulu, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ triệu tập cuộc họp dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara để tìm phương án mới tiến hành chiến tranh đặc biệt trên chiến trường Việt Nam. Dự cuộc họp có: Đô đốc Felt - Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ tại Thái Bình Dương (CINCPAC); Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk; Cố vấn an ninh quốc gia Mc. George Bundy; Giám đốc CIA John McCone; Đại sứ Henry Cabot Lodge và tướng Laul Harkins - Tư lệnh Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam (MACV).
Tại cuộc họp, Bộ trưởng Mc Namara cho rằng chương trình hoạt động ngầm CIA đang triển khai tại miền Bắc Việt Nam không mang lại kết quả mong muốn và chỉ trích: "Một nhúm điệp viên, vài chuyến bay trên bầu trời miền Bắc không phản ánh hết sức mạnh của Mỹ. Vai trò của CIA mới chỉ là hỗ trợ và cung cấp cho người Việt Nam tự thi hành nhiệm vụ (…). Một chương trình thực sự hiệu quả phải có sự tham gia của các nguồn lực quân đội. Quân đội có cái mà họ cần, nguồn lực, lực lượng, học thuyết về chiến tranh đặc biệt để gây sức ép tổng lực với Hà Nội". Hội đồng An ninh quốc gia cho phép gia tăng các hoạt động ngầm chống lại miền Bắc.
Sau Hội nghị Honolulu, MACV và CIA phối hợp xây dựng kế hoạch chung về việc tăng cường các hoạt động ngầm chống lại miền Bắc mang tên Kế hoạch 34A (OPLAN 34A), xác định một loạt các hoạt động ngầm nhằm quấy rối, lật đổ và trừng phạt miền Bắc Việt Nam bằng việc mở cuộc tấn công toàn diện: chiến tranh gián điệp; chiến tranh tâm lý; đánh phá bằng không quân và hải quân; gây sức ép về chính trị. Mục tiêu là "thông qua việc dần gia tăng áp lực nhằm tạo ra sự trừng phạt ngày càng lớn đối với miền Bắc và tạo ra sức ép đến mức có thể thuyết phục giới lãnh đạo Hà Nội rằng việc chấm dứt chính sách gây rối ở miền Nam chính là phục vụ cho lợi ích của họ".
MACV và CIA kiến nghị 5 loại hình hoạt động lớn: thu thập tình báo về miền Bắc; hoạt động chiến tranh tâm lý; tạo sức ép bằng chính trị; thúc đẩy phong trào chống đối ở miền Bắc; phá hoại thông qua việc tập kích đường không và đường biển cùng với hoạt động thám báo phối hợp với không kích nhằm vào miền Bắc.
Ngày 21/12/1963, ngay sau khi vào Nhà Trắng thay người tiền nhiệm John F. Kennedy bị ám sát tại thành phố Dallas tháng 11/1963, tân Tổng thống Johnson chỉ đạo cho Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara và Giám đốc CIA McCone thành lập "Ủy ban liên bộ" để chọn từ kế hoạch 34A ra "những hoạt động có tính khả thi nhất, hứa hẹn mang lại kết quả lớn nhất với rủi ro thấp nhất".
Ngày 15/1/1964, Tổng thống Johnson phê chuẩn "phiên bản 34A mới được rút gọn", chọn 33 trong 72 loại hình hoạt động trong kế hoạch, đảm bảo tiêu chí "ít rủi ro, có tính khả thi cao". Phiên bản mới của 34A đưa ra giải pháp "tăng dần phản ứng".
Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ ra Chỉ thị giao cho CIA vai trò hỗ trợ trong "các hoạt động ngầm bán quân sự có quy mô lớn" do Quân đội điều hành. Ngày 24/1/1964, MACV ra Chỉ thị số 6, thành lập tại Sài Gòn một tổ chức bí mật mang tên "Liên đoàn hành quân đặc biệt" (Special Operation Group - SOG). Sau đó được đổi tên là "Đoàn nghiên cứu, quan sát" (Study and Observation Group) - SOG trực thuộc MACV.
Hạt nhân của SOG là 4 bộ phận nghiệp vụ: OP34, OP35, OP37, OP39. Ngoài ra, SOG còn một bộ phận nghiệp vụ giữ vai trò tiếp tế qua đường hàng không cho tất cả các hoạt động bí mật chống lại miền Bắc và tập trung vào đường mòn Hồ Chí Minh (mật danh là Midrift), bộ phận này quản lý các máy bay và trực thăng của SOG. Mỗi một dạng điệp vụ trên mang một mật danh riêng; mật danh cho toàn bộ chiến dịch chống Hà Nội là Footboy.
CIA chuyển giao toàn bộ nguồn lực liên quan đến hoạt động bí mật chống miền Bắc cho SOG, bao gồm 4 toán biệt kích đã xâm nhập: Bell, Remus, Tourbillon, Easy, điệp viên đơn tuyến Ares mà họ tin là đang hoạt động hiệu quả ở miền Bắc; một số phi công Quốc dân đảng phục vụ cho các chuyến bay tung gián điệp và tiếp tế; cơ sở Long Thành với 169 tên đang được huấn luyện và nhiều hộp thư bí mật ở Sài Gòn; một số cơ sở vật chất phục vụ hoạt động trên biển ở Đà Nẵng...
CIA còn bàn giao 22 nhân viên tình báo có nhiều kinh nghiệm nhất cho SOG; giao cho SOG sử dụng hệ thống tiếp liệu đặc biệt với những thiết bị đặc biệt gồm vũ khí tối tân, dụng cụ câu dây điện thoại để nghe trộm (tại căn cứ Chinen ở Okinawa); bàn giao thêm một phi đội 4 máy bay C123 từ Đài Loan sang để thay thế loại máy bay C47 của không quân Việt Nam Cộng hòa; mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ để thực hiện những chuyến bay trên lãnh thổ miền Nam (phi công Đài Loan chỉ bay những phi vụ xâm nhập miền Bắc hoặc lãnh thổ Campuchia). Cùng với sự trợ giúp của CIA, SOG còn cố vấn, trợ giúp vật chất và huấn luyện giúp lực lượng đặc biệt của quân đội Việt Nam Cộng hòa đủ khả năng thực hiện các hoạt động bán quân sự bí mật chống miền Bắc.
Ngày 1/4/1963, "Sở Khai thác địa hình" được phát triển thành Bộ Tư lệnh Lực lượng đặc biệt với hai đơn vị nòng cốt là Liên đoàn 77 và Liên đoàn 31 có căn cứ tại Nha Trang. Trong đó, Liên đoàn 77 là đơn vị được phát triển từ "Phòng 45" hay còn gọi là "Sở Bắc"; Liên đoàn 31 mới được thành lập để đảm nhận nhiệm vụ thu hút lực lượng phản động trong các dân tộc thiểu số của Việt Nam sống lưu vong tại Lào, Campuchia và Thái Lan; huấn luyện thành gián điệp biệt kích hoặc tung về hoạt động ở vùng rừng núi biên giới Việt - Lào hòng ngăn chặn hoạt động chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam.
Tháng 2/1964, Bộ Tư lệnh Lực lượng đặc biệt phát triển thành Sở Kỹ thuật (STS) để hoạt động song hành với SOG. Đến năm 1967, Sở Kỹ thuật tiếp tục được phát triển thành Nha Kỹ thuật trực thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.
Trong Nha Kỹ thuật gồm có Sở Liên lạc, đóng tại Sài Gòn với nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện, chỉ huy gián điệp biệt kích hoạt động ở các vùng hành lang, vùng giải phóng và địa bàn thuộc Khu IV của miền Bắc Việt Nam. Trực thuộc Sở Liên lạc có các chiến đoàn xung kích và các trường huấn luyện biệt kích.
Sở Không yểm (đóng tại Sài Gòn để phối hợp với Phi đoàn trực thăng 219, Phi đoàn quan sát 110 tại Đà Nẵng trong việc xâm nhập, liên lạc, hướng dẫn và rút lui các toán biệt kích hoạt động trong lòng đối phương); Sở Phòng vệ duyên hải (đóng tại Đà Nẵng); Sở Tâm lý chiến (đóng tại Sài Gòn, điều hành 2 đài phát thanh chống Cộng là "Tiếng nói tự do" và "Gươm thiêng ái quốc"; Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng (đóng tại Long Thành, Biên Hòa); Sở Công tác (đóng tại Đà Nẵng) với nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo hoạt động biệt kích có vũ trang trong các vùng căn cứ cách mạng và vùng giáp ranh để điều tra tình báo, hoạt động phá hoại; thường dùng thủ đoạn bắt cóc người để khai thác tin.
Sau khi được CIA bàn giao cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực, SOG phát triển nhanh chóng về quy mô, gấp rút tuyển chọn sỹ quan, binh lính từ các quân, binh chủng đưa đi đào tạo tại Trường "Chiến tranh đặc biệt" ở Fort Bragg trong thời gian 15 tuần rồi đưa trở lại các bộ phận của SOG để tung ra miền Bắc. Từ tháng 3/1964, SOG liên tục tung các toán gián điệp biệt kích ra phá hoại miền Bắc.
Liên tục xâm nhập và bị bắt
Ngày 11/9/1963, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 66-CT/TW chỉ rõ "Cần nhận rõ công tác phòng chống gián điệp biệt kích là bộ phận công tác quan trọng của cuộc đấu tranh chống phản cách mạng và ngành Công an phải là nòng cốt giúp cấp uỷ trong công tác này". Công an các cấp phải tăng cường điều tra nghiên cứu, nắm vững tình hình báo cáo với cấp uỷ, trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình địch, đề xuất những chủ trương, kế hoạch đối phó từng thời kỳ; soạn thảo chỉ thị cho Trung ương hướng dẫn các ngành và địa phương; sơ kết, tổng kết.
Ngày 13/9/1963, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương mở rộng, với sự có mặt của các Tư lệnh quân binh chủng toàn quân, Bí thư Đảng đoàn các cơ quan Trung ương, Bí thư, Chủ tịch các quân khu, tỉnh, thành; Chỉ huy trưởng quân sự và Trưởng ty Công an các tỉnh, thành trong toàn miền Bắc. Tại Hội nghị này, Bác Hồ đã căn dặn: "Phải quét nhà sạch để sẵn sàng đón loại khách không mời mà đến"; cũng tại Hội nghị, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn nhấn mạnh thêm: "Phải giữ dưới đất là chính, giữ bên trong là chính"…
Sau khi Mỹ - ngụy triển khai kế hoạch 34A, đẩy cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích lên một bước mới, Trung ương Đảng đã ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách là tiếp tục xây dựng miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ. Đặc biệt, tháng 4/1966, Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 125-CT/TW về "Tăng cường giữ gìn an ninh miền Bắc, kiên quyết đánh bại âm mưu hoạt động gián điệp và phản cách mạng trong tình hình chiến tranh phá hoại". Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ Công an đã triển khai đồng loạt các biện pháp nghiệp vụ để bảo vệ miền Bắc.
Trong khi đó, tại chiến trường Tây Bắc và Đông Bắc, các cán bộ trong hai Chuyên án PY 27 và BK63 vẫn duy trì "trò chơi nghiệp vụ" qua điện đài với trung tâm chỉ huy của địch. Những bản tin về tình hình miền Bắc đều đặn được toán Castor và Ares chuyển vào Nam. Castor và Ares đều hoàn thành các nhiệm vụ được giao khiến trung tâm rất tin tưởng và quyết định tăng cường thêm các toán gián điệp biệt kích xâm nhập.
Sau này, trong hồi ký của mình, nhắc lại những ngày tham gia chuyên án BK63, ông Phạm Chuyên, tức điệp viên Ares kể rằng: "Chúng tôi (3 cán bộ công an và tôi thành một tổ công tác) tuy vất vả, thiếu thốn, nhưng công tác đạt kết quả, nên tinh thần và tư tưởng rất thoải mái. Chiến tranh phá hoại ngày càng khốc liệt, tổ công tác quyết định trong các bản tin, Ares báo cáo giảm bớt cộng sự, như thế để hạn chế việc cung cấp tin tức. Tôi báo tin một cộng sự làm nghề lái xe trên đường đi bị trúng bom chết; một người khác "sợ chết" không dám đi xa để thu tin tức... Tin báo cáo vào Nam nhiều nhất là tin tức hoạt động quân sự (tất nhiên phần lớn là tin bịa đặt). Lúc này, cân đối tiền đã gần hết, tôi lại yêu cầu tiếp tế càng sớm càng tốt (…). Thế rồi, vừa làm liên lạc một chiều xong, tôi được tin biệt kích nhảy dù ở Đèo Vàng (Đông Triều). Chỉ sau mấy giờ lùng sục, cả bọn 6 tên, trừ 1 tên mắc dù trên cây bị chết, 5 tên khác bị bắt hết. Qua lời khai của 5 tên bị bắt sống, được biết "thượng cấp" của họ cho nhảy dù xuống đây rồi sẽ cho liên lạc và đặt dưới sự chỉ huy của một "ông lớn" mang mật danh Ares đang hoạt động có hiệu quả ở vùng này".
Tin rằng Ares vẫn an toàn và hoạt động tốt, cơ sở rộng nên "Tổng bộ" tiếp tục tiếp tế lương thực, thuốc men và vũ khí, đồng thời tăng cường cho Ares hai toán là Eagle và Redragon gồm 12 tên xuống địa bàn Hà Bắc và Hà Giang. Sau khi khai thác thông tin từ hai toán này, Bộ Công an chỉ đạo lập án đấu tranh song song với BK63. Lần tiếp tế thứ năm, "Tổng bộ" tăng cường cho Ares một khối lượng lớn súng đạn, thuốc nổ, máy vô tuyến điện mới, mật mã... để trang bị cho bọn tăng cường và cơ sở nội địa hoạt động; ta đã thu gọn và chuyển vào chi viện cho An ninh miền Nam sử dụng. Đặc biệt, để thúc đẩy Chuyên án BK63 thêm một bước, Ban chuyên án cho Ares yêu cầu địch thực hiện liên lạc bằng hộp thư, qua đó Ban chuyên án BK63 phát hiện thêm một số cơ sở cài cắm của địch ở Hải Phòng và vùng Đông Bắc và phương thức liên lạc thông qua thuyền viên nước ngoài.
Qua 10 năm thực hiện, Chuyên án BK63 đã điều khiển trung tâm địch thực hiện 5 lần tiếp tế, tăng cường 3 toán; cung cấp cho địch 56 tin về kinh tế, 20 tin về quân sự và hàng trăm tin khác phục vụ ý đồ đấu tranh chuyên án, đồng thời khai thác của địch nhiều tin tức quan trọng, trong đó có những tin về thời gian, địa điểm đánh phá vùng Đông Bắc của địch…
Cùng thời điểm đó, ở Tây Bắc, toán Castor cũng giành được niềm tin tuyệt đối với trung tâm. Rạng sáng 28/5/1964, tại bản Ngà, xã Tu Nang, huyện Mộc Châu, Sơn La, trung tâm tăng cường cho Castor một toán mang mật danh Coots gồm 7 tên. Ta bố trí bắt sống 6 tên, diệt 1 tên, thu 7 kiện hàng và xác lập Chuyên án NT28 đấu tranh với trung tâm địch. Tin rằng toán Coots đã kết nối được với Castor và đang phối hợp hành động, ngày 24/7/1964, Trung tâm lại tăng cường toán Perseus gồm 7 tên và 7 kiện hàng xuống bãi đỗ Chiềng Chung để phối hợp hoạt động với toán Coots, chờ tăng cường lực lượng sẽ tách ra. Sau khi tiếp đất, cất giấu dù và phương tiện xong, 7 tên biệt kích trong toán Perseus cho tay vào còng số 8 nhưng vẫn không tin là bị bắt mà cho rằng đồng bọn… đùa. Đêm 19/12/1964, địch tiếp tục tăng cường cho Coots toán Alfa gồm 4 tên tại bãi đổ PaLao, Chiềng Chung, Yên Châu. Sau khi bắt được Alfa, Ban chuyên án tiếp tục yêu cầu tăng cường người và hàng. Đêm 7/11/1965, Trung tâm tăng cường toán Vesee gồm 8 tên xuống bãi đổ Chiềng Khừa, Mộc Châu; ta bắt sống 6 tên, diệt 2 tên, thu 6 kiện hàng; nhận tin "đã tiếp đất an toàn", trung tâm điện ra chúc mừng các chiến hữu Vesee.
Để củng cố niềm tin rằng các toán ra Bắc đều đang hoạt động hiệu quả, Ban chuyên án bố trí cho toán Vesee "báo công" một vụ phá hoại mục tiêu trên đường số 6 để củng cố thêm lòng tin và làm hài lòng trung tâm địch. Vì thế, ngày 23/12/1966, Trung tâm tăng cường cho Alfa hai lính biệt kích cùng nhiều đồ tiếp tế tại bãi đổ Chiềng Khừa…
Qua đấu tranh Chuyên án PY27 và TP28 (tại Lai Châu), Ban chuyên án biết trung tâm sẽ tung toán Remus ra vùng rừng núi Tây Bắc. Lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo Công an tỉnh Thanh Hóa phối hợp với các lực lượng vũ trang tổ chức truy lùng, bắt được tên Lò Văn Phóng tại điểm cao Pu Huổi Lai. Từ lời khai của Phóng, ta bắt tiếp 5 tên còn lại, thu hai máy truyền tin vô tuyến điện cùng bảng mật mã và các loại phương tiện, vũ khí. Chúng khai đã chuyển về trung tâm 16 bức điện và được Trung tâm chỉ thị lập căn cứ tại Pu Nậm Oáp. Bộ chỉ đạo xác lập chuyên án mới mang bí số LH17. Mặc dù đã gián đoạn liên lạc gần 1 tháng nhưng do ta tạo lý do giải trình hợp lý nên Trung tâm địch vẫn tin Remus an toàn. Từ đây, Ban chuyên án LH17 đều đặn cho Remus báo cáo tin giả và đặt ra những yêu cầu tiếp tế, tăng cường lực lượng, thuốc men, lương thực...
Trung tâm địch lần lượt thực hiện 4 chuyến tiếp tế theo yêu cầu, với tổng cộng 13 tên biệt kích và nhiều hàng hóa, nhu yếu phẩm, vũ khí, phương tiện hoạt động. Mở rộng đấu tranh chuyên án, ta biết địch sẽ tung một toán gián điệp biệt kích xâm nhập vùng thượng Thanh Hóa mang mật danh Eros; kết hợp với nguồn tin do nhân dân báo cáo, ta huy động lực lượng truy lùng, phát hiện 2 tên nhưng chúng ngoan cố chống trả. Lực lượng vây bắt tiêu diệt tên toán phó là Phạm Công Dung, bắt sống toán trưởng Hà Trọng Thưởng. Từ lời khai của Thưởng, ta bắt tiếp 3 tên còn đang lẩn trốn, trong đó có 2 nhân viên truyền tin, một nhân viên tình báo. Sau khi khống chế thành công toán trưởng và nhân viên truyền tin, ta lập Chuyên án HQ12 đấu tranh với trung tâm địch.
Ngày 17/10/1962, ta cho Eros lên máy liên lạc với trung tâm, giải trình việc gián đoạn liên lạc là do vùng trú ẩn có Bộ đội Biên phòng hoạt động mạnh; toán phó bị ốm nặng; nhân viên tình báo đã móc nối được với cơ sở. Trung tâm địch tin tưởng và tiếp tục chỉ thị Eros hoạt động. Tiếp đó, ta cho Eros cung cấp tin tức và dụ trung tâm địch tiếp tế, tăng cường lực lượng. Trung tâm địch thông báo Eros nhận tiếp tế chuyến thứ nhất vào ngày 8/2/1963. Tuy nhiên có tình huống bất lợi xảy ra là: Bộ đội Phòng không và dân quân bố trí trận địa bắn máy bay ở gần tọa độ Eros hoạt động, do đó việc tiếp tế không thực hiện được. Ngày 6/5/1963, Trung tâm địch lệnh cho Eros rút vào Nam theo đường Lào. Do địa bàn đấu tranh chuyên án nằm trong khu vực các đơn vị pháo phòng không của ta nên lãnh đạo Bộ quyết định kết thúc chuyên án bằng cách cho Eros báo cáo đường bộ qua biên giới không thể đi được, toán trưởng bị ốm chết…
Tính đến tháng 7/1967, trước khi kết thúc Chuyên án PY27, Ban chuyên án đã điều khiển trung tâm địch tăng cường thêm 6 toán, bắt và diệt tổng cộng 35 tên, thu giữ gần 30 kiện hàng, 9 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh (thuốc nổ C3, C4, máy đo chấn động, hỏa tiễn tầm xa 3.5, 4.5, máy bộ đàm HT1A...). Qua đấu tranh Chuyên án PY27, ta đã nắm được toàn bộ âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của địch, rút được nhiều kinh nghiệm để chỉ đạo các địa bàn khác trên toàn bộ miền Bắc đấu tranh có hiệu quả.
Từ hai chuyên án đầu tiên mang bí số PY27 và BK63, ta đã chủ động mở 21 chuyên án đấu tranh với trung tâm địch qua phương thức phản gián điện đài, ở hầu hết các vùng xung yếu, chiến lược, thuộc các tỉnh ven biển, vùng núi phía Bắc và biên giới Việt - Lào. Đã câu nhử, bắt được 23 toán với 127 tên gián điệp biệt kích, phát hiện kịp thời ý đồ hoạt động của địch trong từng thời kỳ khác nhau, với từng vùng ở miền Bắc.
Có những chuyên án ta còn buộc địch bộc lộ đầu mối gián điệp cài cắm ở một số tỉnh thành, bắt một số gián điệp vượt tuyến đầu thú giả, trấn áp một số tổ chức phản động còn giấu mình, bộc lộ lực lượng ngầm ở các địa bàn xung yếu, quan trọng, kể cả một số đầu mối nội gián đánh ra Bắc... Thông qua các chuyên án, ta còn thu được những tin tức chiến lược phục vụ cho đấu tranh ngoại giao…
Thực tế trong 10 năm (1961- 1971), địch tung ra miền Bắc 103 toán gián điệp biệt kích qua đường bộ, đường không, đường biển với tổng cộng 687 tên. Ta bắt và tiêu diệt 78 toán, 463 tên, trong đó bắt sống 422 tên, tiêu diệt 32 tên, 2 tên ngoan cố tự sát và 7 tên chết vì tai nạn trong khi nhảy dù xuống các vùng núi hiểm trở.
Qua 10 năm bị ta khống chế đường thông tin liên lạc, trung tâm địch đã tiếp tế hơn 100 tấn lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng cùng hơn 3 tấn phương tiện hoạt động gián điệp, 6 tấn thuốc nổ C4, trong đó có nhiều loại phương tiện hoạt động gián điệp và vũ khí hiện đại nhất bấy giờ mà Mỹ đang thử nghiệm trên chiến trường miền Nam, giúp chúng ta có điều kiện nghiên cứu khoa học kỹ thuật của địch, cải tiến, chế tạo các loại vũ khí mới, trang bị cho các đơn vị bộ đội chủ lực tác chiến trên chiến trường miền Nam.
Năm 1995, trong cuốn sách "Đội quân bí mật, cuộc chiến tranh bí mật" do Nhà xuất bản Hải quân Mỹ xuất bản, Sedgwick Tourison, cựu điệp viên CIA từng làm việc tại chi nhánh CIA ở Sài Gòn và tham gia chỉ đạo hoạt động ngầm chống miền Bắc, đã mượn lời một cựu điệp viên thú nhận: "Hình như những điệp viên của chúng ta đã bị đón lõng trước khi họ được tung vào miền Bắc. Bất cứ bằng đường không, đường biển, đường bộ, ở nơi hẻo lánh hoặc khu dân cư, dù ban đêm hay ban ngày… họ luôn được những người trên đất liền chờ đón".
(Còn nữa)