Thực hiện nhiệm vụ đặc biệt
Sau hiệp định Geneva (1954), đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp vào nước ta, hòng biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự ngăn chặn CNXH đang phát triển ở Châu Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng. Chúng trắng trợn hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ trở về miền Nam, xây dựng chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô; tăng viện trợ quân sự, đưa cố vấn Mỹ vào miền Nam nước ta thành lập chi nhánh CIA tại Sài Gòn và thiết lập hệ thống tình báo, gián điệp, cảnh sát đặc biệt, tiến hành khủng bố, đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng miền Nam và trả thù những người kháng chiến.
Tháng 10/1956, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy Nam bộ ra Chỉ thị: “… phải nâng cao cảnh giác cách mạng trước âm mưu mới của địch và chủ trương thành lập ngay một đơn vị bảo vệ Xứ ủy, bảo vệ căn cứ”.
năm 1967
Chấp hành Chỉ thị của đồng chí Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, ngày 18/10/1956, tại Ấp Xóm Mới, xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, đơn vị Bảo vệ Xứ ủy đầu tiên được thành lập, lấy phiên hiệu là C80 (Đại đội 80) An ninh Vũ trang miền Nam (sau đổi tên thành Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam) với nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu, canh gác và bảo vệ lãnh đạo Xứ ủy Nam Bộ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao, cơ quan Trung ương Cục miền Nam trong suốt thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù, CBCS Đoàn 180 đã kiên trì bám trụ, mưu trí, dũng cảm chiến đấu, bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo và Khu căn cứ - cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam.
“Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, CBCS Đoàn 180 đã chiến đấu trên 413 trận lớn nhỏ. Tiêu diệt và làm bị thương hơn 4.720 tên địch, bắn rơi và phá hủy trên 100 máy bay, xe tăng, xe bọc thép… Tổ chức bảo vệ 33 lần Cấp ủy di chuyển căn cứ; 1.277 chuyến công tác của các đồng chí lãnh đạo; 590 lần đưa đón các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và khách đến làm việc tại cơ quan “R”, hàng trăm cuộc hội họp lớn nhỏ an toàn... Trực tiếp xây dựng 46 căn cứ mới, 1.350 căn nhà làm việc; đào hàng ngàn mét giao thông hào, các công sự chiến đấu, phục vụ Cấp ủy làm việc an toàn trong điều kiện máy bay B.52 địch đánh phá ác liệt nhất” - Thiếu tướng Phạm Văn Hùng - Phó Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ chia sẻ.
“Chỉ biết còn Đảng thì còn mình”
Năm 1961, trước sự lớn mạnh không ngừng của cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược phản cách mạng, từ “trả đũa ào ạt” sang “phản ứng linh hoạt” nhằm bình định nông thôn, tiêu diệt lực lượng vũ trang, đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta, mục đích cuối cùng là tiêu diệt cơ quan đầu não cách mạng miền Nam. Để thực hiện âm mưu của mình, kẻ địch sử dụng biệt kích thăm dò, xâm nhập căn cứ Trung ương Cục, đồng thời dùng máy bay B.52 đánh phá căn cứ ác liệt. Công tác bảo vệ các đồng chí cấp ủy, bảo vệ căn cứ ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn, song CBCS Đoàn 180 kiên trì, mưu trí, dũng cảm, bất chấp hiểm nguy, bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục đi kiểm tra, chỉ đạo, động viên quân dân các chiến trường.
Tháng 6/1962, một tổ công tác bảo vệ đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư Trung ương Cục đi công tác; giữa đường gặp 04 máy bay địch oanh kích bất ngờ. Tình thế nguy hiểm, tổ bảo vệ đã nhanh chóng đưa đồng chí Bí thư Trung ương Cục nấp vào một bên gò mối (gò đất cao), rồi như một phản xạ tự nhiên, tất cả các thành viên trong tổ công tác cùng nhau vây quanh lấy thân mình che chắn bảo vệ an toàn cho thủ trưởng.
Năm 1970, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, đồng thời chúng mở trận càn Chen-la đánh vào căn cứ Trung ương Cục hòng tiêu diệt toàn bộ cơ quan Đảng và chính quyền cách mạng. Trước sự đánh phá ác liệt của địch vào khu căn cứ bằng nhiều đợt bom B52; nhiều căn cứ dự bị cũng bị địch bao vây. Chỉ trong 3 tháng, Đoàn 180 đã 7 lần tổ chức đưa toàn bộ cấp ủy và các cơ quan Văn phòng đến các địa điểm mới an toàn. Đặc biệt là đợt tấn công cứ điểm Rum - Chéc, CBCS Đoàn 180 đã “mở đường máu” đưa các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và cơ quan Văn phòng vượt sông Mê Kông xa biên giới 90km tuyệt đối an toàn.
Tháng 5/1972, đơn vị tổ chức bảo vệ đồng chí Phạm Hùng (Bí thư Trung ương Cục) đi công tác trở về căn cứ. Khi ra đến giữa sông Mê Kông thì bị máy bay AC130 của địch phát hiện và oanh tạc. Tổ bảo vệ có 5 người đã khéo léo cho thuyền chạy nhanh vào bờ. Mặc cho máy bay quần thảo trên bầu trời, anh em tổ bảo vệ vẫn kiên trì che chắn, dìu, bảo vệ đồng chí Phạm Hùng về Cứ an toàn.
Năm 1972, đơn vị tổ chức bảo vệ đưa đồng chí Võ Văn Kiệt đi công tác tại đồng bằng Sông Cửu Long, trên đường bị địch phát hiện, truy kích. Sau khi đưa được thủ trưởng ra khỏi vòng vây và giao cho tổ cận vệ đi tiếp, đồng chí Huỳnh Minh Mương ở lại trực tiếp chiến đấu đánh lạc hướng, cầm chân địch và đã anh dũng hy sinh.
Tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng
21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có hơn 500 CBCS Cảnh vệ đã anh dũng hy sinh cùng hàng trăm thương binh, bệnh binh đã hy sinh một phần xương máu của mình vì sự nghiệp “bảo vệ Đảng, bảo vệ lãnh tụ”. 4 cá nhân CBCS Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam được phong tặng Danh hiệu AHLLVTND thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong đó có anh hùng, liệt sĩ Phạm Thành Lượng.
Sinh năm 1948 tại xã Vĩnh Bình Nam, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, sau 3 năm nhập ngũ và tham gia chiến đấu bảo vệ tại huyện nhà, tháng 6/1968, Phạm Thành Lượng chuyển về Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam. Vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Trung ương Cục đi công tác, vừa chiến đấu bảo vệ Căn cứ, nhiệm vụ nào, Trung đội trưởng Phạm Thành Lượng cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đồng chí Phạm Thành Lượng phụ trách một đơn vị đánh vào đồn bảo an của địch ở Mỏ Công đến ngã ba Vinh. Đây là vị trí then chốt, có tính chất chiến lược nhằm giải phóng trục quốc lộ, tạo điều kiện cho quân ta tiến vào giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định. Đồn bảo an Mỏ Công xây dựng từ năm 1962, được bảo vệ với nhiều hàng rào kiên cố, chống đạn B40 và B41. Vòng ngoài đồn còn được xây dựng vành đai ấp chiến lược, canh phòng cẩn mật, được bảo vệ bởi các cụm pháo, các cửa và có trên 400 tên lính thường xuyên tuần tra canh gác, bảo vệ cùng một đại đội lính bảo an túc trực tại đồn.
Để tiêu diệt được đồn này, theo kế hoạch, ngày 22/3/1975, tiểu đội của Phạm Thành Lượng bắt đầu triển khai nhiệm vụ. 5 đêm liên tục, Phạm Thành Lượng kiên trì, mưu trí luồn sâu để nắm tình hình đồn Mỏ Công. Đêm hành động, khi sắp nổ súng thì địch phát hiện được lực lượng mũi chủ công của ta và chúng dùng chiến thuật đánh vây chặn quyết liệt.
Trước tình hình đó, Ban chỉ huy mặt trận quyết định mũi tiến công do Phạm Thành Lượng phụ trách phải chuyển nhiệm vụ từ thứ yếu lên chủ yếu. Khi tổ bộc phá bị thương vong, Phạm Thành Lượng đã dũng cảm ôm hai quả bộc phá đánh tiếp để mở đường cho cánh quân khác tiến vào. Dưới làn mưa đạn, Phạm Thành Lượng dẫn tổ xung kích vượt lên áp sát bờ tường tận cùng của đồn Mỏ Công cao hơn 2m, bên trong là bãi mìn. Đây là trở ngại lớn nhất trên đường tiến quân vào đồn. Mặc dù đã bị thương ở vai, song đồng chí Lượng vẫn quyết ôm bộc phá móc lên tường rồi giật nụ xòe. Bộc phá nổ, người Phạm Thành Lượng theo sức ép tung lên rồi rơi xuống đống dây thép gai bị thương nặng. Thương tích khắp cơ thể nhưng Phạm Thành Lượng vẫn bám chắc trận địa, tạo điều kiện cho đơn vị đánh chiếm căn cứ.
Rạng sáng ngày 22/3/1975, đồng chí Phạm Thành Lượng đã trao cho đồng đội quả lựu đạn cuối cùng rồi trút hơi thở cuối cùng giữa lúc toàn bộ đồn Mỏ Công được giải phóng. Chiến thắng đồn Mỏ Công đã giải phóng một khu vực rộng lớn trên 6.000 dân, buộc quân địch phải co cụm về trung tâm thị xã Tây Ninh, cố thủ trong sự hoảng loạn, rệu rã. Khu căn cứ Trung ương Cục có hành lang an toàn, tiếp tục chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Ngày 24/01/1976, gần 1 năm sau ngày hy sinh, đồng chí Phạm Thành Lượng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.