Ký ức chiến trận nơi núi rừng Tây Bắc
Tháng 5/1961, khi lập Chuyên án PY27, Bộ Công an giao cho đồng chí Trần Triệu, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, trực tiếp chỉ huy; đồng chí Nguyễn Trọng Tháp, Phó trưởng Phòng Bảo vệ chính trị (sau này là Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Lai Châu, nguyên Cục trưởng Cục Chống phản động - Tổng cục An ninh) trực tiếp đấu tranh chuyên án và một số trinh sát nội tuyến, trinh sát kỹ thuật đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Bộ. Sau 2 năm trực tiếp tham gia Chuyên án PY27, khi bắt được toán Remus, Bộ cho lập Chuyên án LH17 tại Lai Châu, ông Tháp được điều sang chỉ huy chuyên án này 6 năm cho tới khi kết thúc và tiếp tục tham gia chỉ đạo bắt các toán gián điệp biệt kích xâm nhập khác.
Sau này, nhắc lại 10 năm tham gia các chuyên án gián điệp biệt kích, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Tháp (1929 - 2020) kể rằng, bắt được gián điệp biệt kích khi chúng vừa nhảy dù xuống chỉ là thắng lợi bước đầu, còn khai thác địch để chuyên án tiếp tục phát triển, chống địch nghi ngờ lại là cả một nghệ thuật. Thời gian chuyên án kéo dài 6 - 7 năm, nhiều tình huống diễn biến rất phức tạp; trung tâm địch luôn luôn kiểm tra an ninh.
Mật khẩu an ninh của mỗi tên, mỗi khi trung tâm nghi ngờ là kiểm tra và kiểm tra thường xuyên. Khẩu lệnh an ninh khi nhảy xuống gặp nhau là chỉ huy giao, tên nào cũng biết khi gặp nhau thôi. An ninh mật mã chỉ tên toán trưởng biết, an ninh truyền tin chỉ tên truyền tin biết, mật khẩu an ninh của tên nào thì chỉ huy giao riêng cho từng tên, toán trưởng cũng không biết. Vì vậy, cán bộ trong chuyên án phải là người giỏi nghiệp vụ và nhiều lĩnh vực khác, tùy trình độ từng tên để đấu tranh, thuyết phục chúng khai đúng mật khẩu an ninh; nhiều khi trinh sát phải nắm được gia cảnh, khai thác tình cảm để cảm hóa đối tượng.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Tháp kể rằng, khi hỏi cung một tên là người dân tộc Thái, ông liền nói tiếng Thái; nghe xong hắn nói luôn: "Con sống rồi, xin ông cứu con". Vậy là hỏi gì hắn khai bằng hết. Một tên là người Thổ đã lớn tuổi; sau khi khai thác thông tin về nhân thân tên này qua các thành viên khác, ông biết nhà hắn ở gần sân bay có ao cá, vườn rau. Mỗi khi toán gián điệp biệt kích chuẩn bị ra miền Bắc thường đến nhà y đánh cá và tổ chức ăn nhậu. Vậy là khi hỏi cung, ông phủ đầu luôn: "Trước khi ra ngoài này anh có đánh cá, tổ chức mời các chiến hữu không? Vườn rau xanh tốt chứ?", khiến hắn ngỡ ngàng. Sau đó, hắn đã khai chính xác mật khẩu an ninh được chỉ huy giao là "gỗ".
Có những chuyện khá khôi hài, các toán gián điệp biệt kích trước khi ra Bắc đều được chỉ huy khẳng định là đã có sẵn cơ sở ở ngoài Bắc, chỉ cần nhảy dù xuống đúng tọa độ đã định là sẽ có người đón. Vì thế, có những tên khi nhảy dù rất yên tâm vì thấy dưới mặt đất phát tín hiệu hướng dẫn máy bay, có lửa hiệu theo quy định; khi nhảy xuống thấy toàn rừng núi giáp Lào, xa bản làng; nhảy dù xuống bãi, gặp nhau đều nói đúng khẩu lệnh quy định. Nên có tên sau khi bị bắt, trinh sát hỏi về mật khẩu an ninh, mật mã, an ninh cá nhân hắn đều khai ngay, nhưng gặp ông Tháp lần nào hắn cũng nói: "Anh phải báo cáo Trung ương, không mất an toàn Trung ương nghi". Đề phòng hắn khai gian dối, ông hỏi: "Anh nhảy dù xuống rừng núi trùng điệp như thế này có nguy hiểm không?". Hắn nói rất nguy hiểm, nếu không giỏi, dù bị xoắn số 8 (dù không bung - PV) là chết. Lúc đó, ông nói với hắn là "tôi sẽ cho báo cáo là anh bị dù số 8". Hắn hoảng hốt và lúc này mới sụp xuống van lạy. Hóa ra lúc hỏi cung hắn, ông Tháp mặc quần áo biệt kích, để tóc dài; giày, đồng hồ, giấy, bút đều của biệt kích, nên hắn tưởng ông là… toán trưởng dưới mặt đất đến đón toán tăng cường của hắn.
Đại tá Hồ Can kể rằng, sau khi vượt qua được các đợt kiểm tra an ninh của địch, Ban chuyên án liên tục sản xuất tin giả cung cấp cho địch nên đã gây được niềm tin với trung tâm. Với lý do cần tăng cường thêm người và vũ khí, máy điện đài để mở rộng địa bàn hoạt động ra khắp vùng Tây Bắc, Ban chuyên án liên tục yêu cầu địch tăng cường vũ khí, phương tiện liên lạc. Vì vậy trong những năm 1964 - 1966, trung tâm đã gửi ra nhiều điện đài, vũ khí thế hệ mới nhất. Đặc biệt, máy điện đài của địch trang bị cho các toán gián điệp biệt kích rất hiện đại, nhỏ gọn, cầm trong tay được, lại không hỏng khi gặp nước. Vì vậy, những thiết bị này không chỉ phục vụ chuyên án mà còn được chi viện cho lực lượng An ninh chiến đấu tại chiến trường miền Nam.
Đại tá Nguyễn Tuấn, ngày đó là Trưởng K chống gián điệp biệt kích, sau này là Phó Giám đốc Công an tỉnh Sơn La, bảo rằng mỗi khi bắt được các toán, ông thường trực tiếp khai thác nhanh thông tin như toán có mấy tên, ai là toán trưởng, ai là người truyền tin, toán do ai huấn luyện; khi nhảy dù xuống sẽ tập trung ở đâu, cách liên lạc thế nào, mật khẩu ra sao? Không những thế, khi thu giữ tang vật, bao giờ ông cũng yêu cầu các cán bộ phải thống kê chính xác, cụ thể đối với từng tên; việc bảo quản vũ khí, trang bị thu được cũng phải làm chu đáo, thuận tiện cho việc sử dụng trong suốt thời gian đấu tranh chuyên án, vì trung tâm địch rất hay kiểm tra an ninh của từng toán, của từng tên như đọc số súng cá nhân, liên lạc vô tuyến điện bằng loại máy gì… thì sẽ ứng phó được ngay.
Ngày 4/7/1967, thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, hiệu thính viên của Castor liên lạc giữa chừng rồi bỏ máy, Chuyên án PY27 kết thúc. Sau 6 năm thực hiện (9/6/1961 - 4/7/1967), ngoài toán Castor, Chuyên án PY27 đã bắt thêm 6 toán gián điệp biệt kích bổ sung cho Castor, ta lập thêm các chuyên án TP28, KS16, LH17 đấu tranh với gián điệp biệt kích tại Tây Bắc. Trong đó, riêng Chuyên án LH17 tại Lai Châu kéo dài hơn 5 năm (5/7/1962 - 29/11/1967) đã bắt giữ 20 tên, diệt 1 tên, thu 128 kiện hàng, 17 bộ điện đài, 60 máy truyền tin bán dẫn và gần 1 tấn thuốc nổ...
Đặc biệt, từ Chuyên án PY27, Ban chuyên án đã khai thác và biết thêm đặc lệnh truyền tin, biết được luật mật mã của địch để cung cấp cho bộ phận mã thám, từ đó mở được nhiều điện mật của địch, phát hiện thêm nhiều đài địch, mở được mật mã. Qua đấu tranh Chuyên án PY27, ta đã nắm được toàn bộ âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của địch, rút kinh nghiệm để chỉ đạo các địa bàn khác trên toàn miền Bắc đấu tranh có hiệu quả.
Chuyện đời của "lão nông đặc biệt" Phạm Chuyên
Nếu Chuyên án PY27 kéo dài 6 năm thì Chuyên án BK63 còn dài tới gần 10 năm. Đầu năm 1961, khi xuống tàu xâm nhập miền Bắc, Phạm Chuyên được Trung úy Đỗ Văn Tiên (mật danh Francois - còn gọi là Phan), sĩ quan Phòng 45, người trực tiếp tuyển chọn và huấn luyện, hứa chỉ sau 1, 2 năm sẽ quay về Nam. Nhưng có lẽ thấy Phạm Chuyên, tức điệp viên Ares, hoạt động quá hiệu quả nên thay vì việc rút về thì "Tổng bộ" tiếp tế cho Ares nhiều tiền, hàng, vũ khí và thưởng "Anh dũng bội tinh".
Với các trinh sát tham gia Chuyên án BK63, đó là những năm tháng gian khổ khi luôn phải sống biệt lập, mỗi lần đi nhận hàng tiếp tế từ trung tâm địch gửi qua đường hàng không là phải trèo đèo lội suối vì chúng toàn chọn các điểm trên núi cao, xa khu dân cư để thả dù hàng. Có một kỷ niệm khó quên với cả tổ, đó là lần chuẩn bị lên đường đi nhận hàng tiếp tế thì con đồng chí trinh sát Trần Hiệu bị chết đuối, cả tổ công tác lo mai táng cho cháu xong rồi lập tức lên đường làm nhiệm vụ.
Sau này, trong hồi ký, ông Phạm Chuyên kể rất nhiều về những năm tháng vừa phải tránh bom Mỹ, vừa cùng các cán bộ trong Chuyên án BK63 đấu trí với CIA: "Chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của Mỹ thêm ác liệt. Tổ công tác đang ở Bãi Cháy phải chuyển về Hà Lầm. Về Hà Lầm chưa được bao lâu, lại phải chuyển đi Quang Hanh. May sao vừa xuống Quang Hanh được ít bữa thì Hà Lầm bị ném bom. Về Quang Hanh, ở trong khu núi đá rất an toàn nhưng mỗi lần làm liên lạc phải có ôtô đi lên vùng Uông Bí để thay đổi tọa độ làm liên lạc, tránh sự phát hiện của máy "trắc giác". Việc đi làm liên lạc thêm khó khăn và nguy hiểm, nhất là phải qua phà Bãi Cháy. Lãnh đạo quyết định làm nhà sơ tán vào khu núi đá Trại Me (xã Sơn Dương - huyện Hoành Bồ). Thời kỳ này, đời sống cán bộ, công nhân viên nhà nước gặp nhiều khó khăn. Tiêu chuẩn mỗi người lao động nhẹ được 0,5 kg lương thực/ ngày, nhưng 2/3 là bột mì. Lúc đầu chưa biết "chế biến" thành mì sợi, nên chỉ biết nấu cháo, nắm thành "bánh" luộc, hoặc khéo tay thì tráng bánh cuốn. Tiền thức ăn mỗi người một ngày chỉ được mua 5 con vạng, mấy nhánh hành để nấu canh... Sau này, chúng tôi (3 cán bộ công an và tôi thành một tổ công tác) học được cách làm bánh bao, rồi đắp lò nướng bánh mì, việc ăn uống mới tạm ổn... Tuy vất vả, thiếu thốn, nhưng công tác đạt kết quả, nên tinh thần và tư tưởng rất thoải mái. Chúng tôi phát nương trồng sắn, trồng rau xanh, đặt bẫy bắt chim, thú rừng và cả rắn để cải thiện bữa ăn…".
Cuối năm 1969, sau gần 10 năm đưa Ares ra miền Bắc, "Tổng bộ" yêu cầu Phạm Chuyên quay lại miền Nam. Ngày 16/12/1969, "Tổng bộ" gửi cho Ares bức điện với nội dung: "Tổng bộ rất khổ tâm vì lý do an ninh nên Tổng bộ quyết định chấm dứt liên lạc vô tuyến với Hạ Long từ ngày 1/1/1970, nếu để kéo dài ngày nào sẽ bất lợi cho cả đôi bên. Hạ Long hãy chôn giấu tất cả trang bị và tiêu hủy tài liệu giấy tờ, tìm cách vượt tuyến về trình diện với trung tâm chiêu hồi địa phương, sẽ có đại diện Tổng bộ đến đón tiếp. Hạ Long có tin tức gì đặc biệt hãy gửi về Tổng bộ trước ngày 31/12/1969".
Trước yêu cầu này, Ban chuyên án lên kế hoạch kết thúc chuyên án sao cho địch không nghi ngờ. Trong báo cáo gửi Thứ trưởng Bộ Công an Viễn Chi, Ban chuyên án đưa ra 3 nhận định về lý do địch muốn rút Ares về Nam:
Thứ nhất, qua những vụ án ta đã kết thúc trước đó và quá trình đấu tranh Chuyên án BK63, có thể khiến địch bắt đầu nghi ngờ nhưng chưa có cơ sở để kết luận.
Thứ hai, địch có chủ trương rút các toán gián điệp biệt kích tung ra miền Bắc hoạt động lâu ngày trở về miền Nam để rút kinh nghiệm nhằm thẩm tra, thử thách trực tiếp, đồng thời tính toán một kế hoạch mới.
Thứ ba, có thể do trước đó ta đã tuyên truyền công khai trên báo đài vụ án gián điệp ở Hà Giang ra đầu hàng nên địch có phản ứng thăm dò phản ứng của Ares như thế nào; mặt khác cũng có thể địch nghi ngờ.
Sau khi đánh giá lại toàn bộ quá trình thực hiện chuyên án, lãnh đạo Cục Bảo vệ Chính trị kết luận mục đích đặt ra với chuyên án đã đạt được nên đến lúc phải kết thúc. Vì vậy, trong bản tin cuối cùng gửi về "Tổng bộ", Ares đã có những lời chia tay: "Tham chiếu công điện của Tổng bộ vì lý do an ninh, tôi rất khổ tâm phải ngừng liên lạc với Tổng bộ như quy định. Tôi sẽ cố gắng hết sức mình để sớm vượt qua mọi khó khăn, hy vọng sẽ sớm trở về gặp mặt Tổng bộ…".
Ngày 1/1/1970, Chuyên án BK63 chính thức kết thúc. Sau gần 10 năm thực hiện, Chuyên án đã điều khiển trung tâm địch 5 lần tiếp tế, tăng cường thêm 3 toán. Chuyên án đã 13 lần vượt qua sự kiểm tra an ninh của trung tâm địch, cung cấp 307 tin giả, câu móc và bắt giữ hàng chục tên gián điệp biệt kích, thu giữ 1 tàu cùng nhiều vũ khí, khí tài hiện đại của địch tiếp tế cho BK63. Không những thế, ta đã nắm được hầu hết âm mưu, biết trước hoạt động bắn phá của Không quân Mỹ trong chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc tại Quảng Ninh để kịp thời sơ tán nhân dân. Từ Chuyên án BK63 đã mở ra hai chuyên án khác.
* * *
Năm 2015, trong câu chuyện với phóng viên An ninh thế giới Cuối tháng về những năm tháng trực tiếp chỉ đạo Chuyên án BK63, Thiếu tướng Lê Mai (1927 - 2017), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh, người trực tiếp tham gia chỉ đạo Chuyên án BK63 từ ngày đầu, bảo rằng điều ông ấn tượng về Phạm Chuyên là người thông minh và đặc biệt rất thương mẹ. Sau khi bị bắt, Phạm Chuyên chỉ đề nghị công an không bắt bà mẹ. Giữ đúng lời hứa, không chỉ bà mẹ mà tất cả các em Phạm Chuyên cũng được cho về làm ăn bình thường.
Ngày ấy, dù công việc bận rộn nhưng tháng nào ông cũng xuống thăm anh em trinh sát và Phạm Chuyên một lần, vừa để nắm tình hình công việc nhưng cũng để động viên tinh thần vì tổ công tác đặc biệt này luôn phải sống biệt lập. Ngay cả Cục trưởng Nguyễn Tài ở Hà Nội cũng điện xuống Quảng Ninh hỏi thăm Phạm Chuyên.
Năm 1970, sau khi chuyên án kết thúc, để gia đình Phạm Chuyên có cuộc sống bình thường, Công an Quảng Ninh đã liên hệ với chính quyền huyện Đông Triều cấp đất ở, ruộng vườn và bỏ tiền ra dựng nhà. Nhưng chỉ gần một năm sau, với lý do muốn được về quê sinh sống, Phạm Chuyên trả lại nhà, đưa vợ và hai con trở lại ngôi nhà của bố mẹ để lại ở xã Tiền An, huyện Yên Hưng làm ruộng, sống cuộc đời của một lão nông chịu khó cày cấy, chăn nuôi. Năm 1997, ông Phạm Chuyên được Chủ tịch nước tặng Huân chương Kháng chiến.
Thiếu tướng Lê Mai kể rằng những năm còn công tác, nhất là thời gian được điều về Bộ công tác, ông không có thời gian gặp gỡ. Năm 1990 nghỉ hưu, ông về Hạ Long sống thì năm nào cũng ít nhất một lần ra tận nhà thăm ông Chuyên. Mấy chục năm sau khi chuyên án kết thúc, dù một người đã lên cấp tướng, nhưng giữa họ vẫn còn lại mối thâm tình của hai người bạn già. Năm 2003, theo lời khuyên của Thiếu tướng Lê Mai, ông Chuyên đã viết lại tự truyện đời mình và đưa cho Thiếu tướng Lê Mai giữ, coi như kỷ niệm giữa hai người bạn về một quãng đời đặc biệt. Năm 2012, Bộ Công an đã tặng ông Phạm Chuyên Huy chương Vì an ninh Tổ quốc và hỗ trợ 50 triệu đồng để sửa nhà. Hôm đi nhận tiền ở Công an huyện, ông Chuyên chỉ nói cảm ơn rồi khóc vì cảm động. Nhưng nhận tiền về, ông không dùng sửa nhà mà dành phần lớn cho đứa cháu nội khi đó mới bị tai nạn giao thông đi chữa bệnh.
Cuối năm 2014, sau mấy tháng nằm liệt giường, khi biết mình không qua khỏi, ông Chuyên bảo con cháu gọi điện cho Thiếu tướng Lê Mai. "Hôm tôi ra, ông ấy còn tỉnh nên thấy tôi ông ấy mừng lắm, cho gọi hết con cháu lại bảo đây là ân nhân, nói rồi ông ấy cứ khóc. Một tuần sau thì ông ấy mất".
Vĩ thanh
Ngày 30/4/1972, trước những thay đổi cục diện trên chiến trường miền Nam, MACV quyết định giải thể SOG, kế hoạch đưa gián điệp biệt kích ra phá hoại miền Bắc hoàn toàn phá sản. Sau hơn 10 năm đánh gián điệp biệt kích, ta đã bắt và tiêu diệt 78 toán, 463 tên gián điệp biệt kích; trong đó bắt sống 422 tên, tiêu diệt 32 tên, 2 tên ngoan cố tự sát, 7 tên chết vì tai nạn khi nhảy dù xuống các vùng núi hiểm trở.
Sau năm 1975, toàn bộ gián điệp biệt kích bị bắt đã được trả tự do. Hơn 100 cựu gián điệp biệt kích sau đó được phía Mỹ đồng ý cho sang định cư theo diện H.O. Trong đó Hà Văn Chấp, toán trưởng Castor xuất cảnh đi Mỹ năm 1993. Nhưng cuộc sống ở Mỹ của phần lớn những cựu gián điệp biệt kích này đều khó khăn vì họ không có trình độ chuyên môn.
***
Năm 2016, phóng viên An ninh thế giới Cuối tháng có dịp trò chuyện với Thiếu tướng Nguyễn Quang Phòng (1927 - 2023), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an, một trong những cán bộ của Cục Bảo vệ Chính trị tham gia các chuyên án bắt gián điệp biệt kích từ những ngày đầu tiên.
Thiếu tướng Nguyễn Quang Phòng kể rằng, một buổi sáng cuối tháng 5/1975 tại Sài Gòn, ông nhận được điện thoại của đồng chí Đoàn Chi, phụ trách Trại giam Chí Hòa gọi sang gặp Trần Khắc Kính, một trong những người đầu tiên cùng Lê Quang Tung xây dựng lực lượng gián điệp biệt kích để tung ra Bắc.
Trong cuộc đảo chính tháng 11/1963 lật đổ Ngô Đình Diệm, anh em Lê Quang Tung - Lê Quang Triệu đều bị phe đảo chính sát hại, riêng Trần Khắc Kính bị bắt giam một thời gian, sau đó được thả và phục hồi cấp bậc đại tá.
Trong cuộc trò chuyện tại trại giam, Trần Khắc Kính kể: "Khi nhận được bản tin đầu tiên của Castor đánh về, tôi đã nghi là toán này đã rơi vào tay Cộng sản vì Hà Văn Chấp trình độ văn hóa rất thấp, khi còn ở trung tâm huấn luyện, cho Chấp tập viết tin báo cáo ngắn gọn gửi qua điện đài vô tuyến điện chỉ mấy dòng chữ mà đã thấy chữ thừa, chữ thiếu. Thế mà đọc kỹ bản điện này tôi thấy lời văn rất gọn, không thể bỏ hay thêm vào chữ nào cả. Nhưng tôi vẫn báo cáo với các cố vấn Mỹ là toán Castor được an toàn, có điện về xin tiếp tế thêm vũ khí, phương tiện; các cố vấn Mỹ rất vui và đồng ý tiếp tế cho Castor.
Chuyến bay tiếp tế cho Castor đáng lẽ đến lượt Nguyễn Cao Kỳ lái chiếc C47 ra Bắc. Vì chơi thân với Kỳ nên tôi bảo Kỳ nên kiếm lý do gì đó tránh đi và Kỳ đã nghe tôi xin nghỉ phép. Trung úy Phan Thanh Vân đi thay và chiếc C47 của Vân đã bị hạ khi mới ra tới Ninh Bình. Vì vụ này mà Nguyễn Cao Kỳ rất ơn tôi, kể cả khi đã làm to. Suốt cả thời gian dài các toán gián điệp biệt kích ở miền Bắc có liên lạc hai chiều với trung tâm mà chưa phá hoại được vụ nào đáng kể. Trung tâm đã nhiều lần phái người ra kiểm tra hoặc kiểm tra trực tiếp trong phiên liên lạc nhưng vẫn không mang lại kết quả gì. Phái người ra kiểm tra thì vì ngoài đó kiểm soát chặt chẽ quá nên phải về không, có người bị bắt.
Chúng tôi nghi toán nào đó rơi vào trò chơi nghiệp vụ của các ông thì tất nhiên các ông phải thu hết súng nên chúng tôi hỏi số súng của từng người, có điệp viên nào đó mà chúng tôi nghi các ông đã thay người khác vào thì chúng tôi hỏi quê vợ của điệp viên đó v.v... nhưng tất cả đều trả lời rất chính xác. Cuối cùng thì chúng tôi cũng như các cố vấn Mỹ đành nhắm mắt làm ngơ coi như không có chuyện gì, tiếp tục xin kinh phí huấn luyện và tung gián điệp biệt kích ra Bắc, cứ thế đến hẹn lên cấp, lên lương, khỏi phải bị điều ra mặt trận chiến đấu chết uổng".
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi cuộc chiến chống gián điệp biệt kích kết thúc; nhiều cán bộ, chiến sĩ từng trực tiếp tham gia các chuyên án đã không còn nữa, nhưng những bài học kinh nghiệm trong hơn 10 năm đấu tranh các chuyên án đã được đúc kết thành lý luận nghiệp vụ an ninh. Đặc biệt, những chiến công ấy đã góp phần làm nên truyền thống anh hùng của lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.