Những câu thơ nhói lòng tháng 7

Với văn học hiện đại, dòng thơ xúc động nhất ở nước ta có lẽ là viết về sự hy sinh, mất mát của lực lượng vũ trang và đồng bào trong các cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Theo cách bày tỏ của nhà thơ Chế Lan Viên, đó là: “Ta sống những năm viên đạn nặng hơn người/ Nhiệm vụ thơ nặng hơn trang giấy, các tài thơ”. Đây là một cơ sở cho ta lý giải được phần nào vì sao thơ viết về sự mất mát hy sinh trong chiến tranh của giai đoạn này đầy đặn lòng lạc quan như thế. Đau xót mà vẫn lạc quan, đấy chính là đặc điểm chung dễ nhận ra của thơ viết về liệt sĩ của thời chống Pháp, chống Mỹ. Dấu ấn thời đại in vào đó; chiến sĩ đồng bào ta phải vượt lên nỗi đau để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù hung bạo.

Nỗi đau lạc quan thể hiện đậm nét trong những bài thơ nổi tiếng viết về liệt sĩ thời chiến tranh như “Viếng bạn” của Hoàng Lộc, “Tây Tiến” của Quang Dũng, “Giá từng thước đất” của Chính Hữu, “Núi Đôi” của Vũ Cao, “Quê hương” của Giang Nam, “Mồ anh hoa nở” của Thanh Hải, “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu, “Bài thơ về hạnh phúc” của Dương Hương Ly, “Khoảng trời - Hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ, “Nấm mộ và cây trầm” của Nguyễn Đức Mậu, “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân…

Từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hoàng Lộc đã có bài thơ “Viếng bạn” rất cảm động với những chi tiết cụ thể về sự hy sinh của đồng đội: “Hôm qua còn theo anh/ Đi ra đường quốc lộ/ Hôm nay đã chặt cành/ Đắp cho người dưới mộ…”. Nỗi đau không thể nói là nhỏ “Khóc anh không nước mắt/ Mà lòng đau như thắt/ Gọi anh chửa thành lời/ Mà hàm răng dính chặt”, nhưng vượt lên nó là lòng căm thù ngùn ngụt cùng với niềm tin sắt son vào chiến thắng: “Mai mốt bên cửa rừng/ Anh có nghe súng nổ/ Là chúng tôi đang cố/ Tiêu diệt kẻ thù chung”.

Bộ đội ta đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất (ảnh tư liệu).
Bộ đội ta đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất (ảnh tư liệu).

“Tây tiến” của Quang Dũng là một trong những bài thơ hay nhất xuất hiện trong thời chống Pháp. Trong “đoàn binh không mọc tóc” ấy có nhiều người vốn là thanh niên, học sinh Hà Nội tình nguyện đầu quân đánh giặc xâm lăng, đêm còn mơ về những “dáng kiều thơm” nơi mình ra đi. Có người đã ngã xuống chốn rừng thiêng nước độc nhưng cái chết của họ vẫn không hề ảm đảm, u ám, trái lại vút cao lên bản tráng ca lẫm liệt: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Sự hy sinh của những người lính “Tây tiến” giống như cái chết của những tráng sĩ nghĩa hiệp vậy, chẳng có mảy may ai oán, bi lụy.

Nỗi đau lạc quan thể hiện đậm nét trong tác phẩm “Núi Đôi” rất nổi tiếng của Vũ Cao. Bài thơ mang trong nó một câu chuyện tình yêu tuyệt đẹp: “Bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/ Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa/ Bữa thì anh tới bữa em sang…”. 

Cùng nỗi đau mất mát quá lớn khi cô gái du kích người yêu của anh bộ đội hy sinh: “Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em…”. Và, vầng sáng của sự giao hòa bất tử có được từ tinh thần lạc quan cách mạng: “Anh đi bộ đội, sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”.

Bước sang giai đoạn chống Mỹ, ta càng thấy rõ hơn cái chất lạc quan trong những bài thơ viết về sự hy sinh. Trong “Quê hương” của Giang Nam, ta đọc được sự cao cả của những cái chết vì Tổ quốc: “Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm/ Có những ngày trốn học bị đòn roi/ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi”. 

Cái chết của cô gái mở đường trong bài thơ “Khoảng trời - Hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ cũng trở nên huyền ảo lạ kỳ: “Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/ Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng/ Những vì sao ngời chói, lung linh/ Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong/ Đã hóa thành những làn mây trắng?…”. 

Hy sinh cho đất nước trở thành hạnh phúc của người ra trận. Trong “Nấm mộ và cây trầm”, Nguyễn Đức Mậu đã cảm nhận rất rõ điều này: “Chết – Hy sinh cho Tổ quốc” Hùng ơi/ Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất/ Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc/ Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng…”. 

Sự hy sinh của người chiến sỹ trên đường băng Tân Sơn Nhất năm 1968 được nâng lên thành hình tượng kỳ vĩ dáng đứng Việt Nam như thơ Lê Anh Xuân khắc tạc: “Tên Anh đã thành tên đất nước/ Ôi anh Giải phóng quân!/ Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân…”.

Chiến tranh kết thúc và lùi xa, chúng ta có điều kiện nhìn nhận hiện thực từng xảy ra một cách điềm tĩnh, toàn diện, sâu sắc hơn. Trong thơ ca, yêu cầu cổ vũ, động viên nhường chỗ cho sự tưởng niệm tri ân những người ngã xuống vì Tổ quốc. Nhiều bài thơ về liệt sỹ ra đời với niềm đau thương thăm thẳm, sự hồi tưởng day trở khôn nguôi một thời bi tráng khốc liệt. 

Có thể kể đến các bài thơ “Phan Thiết có anh tôi” của Hữu Thỉnh, “Bài thơ người đi tìm phần mộ em trai mình” của Dương Kỳ Anh, “Viếng chồng” của Trần Ninh Hồ, “Gió đất” của Lê Đình Cánh, “Cô tôi” của Nguyễn Văn Hiếu, “Cánh rừng nhiều đom đóm bay” của Nguyễn Đức Mậu, “Cái roi ngày ấy” của Đinh Phạm Thái, “Lời thỉnh cầu ở ngã ba Đồng Lộc” của Vương Trọng, “Đám cưới một linh hồn” của Vũ Bình Lục… 

Các thi phẩm ấy theo dấu chân những đội quân đi tìm đồng đội, theo thân nhân liệt sĩ đến các nghĩa trang trong cả nước. Chân thực, xúc động là cảm nhận chung khi ta đọc những bài thơ đầy chất tưởng niệm tri ân như thế. Về nghệ thuật thơ, chúng ta nên chú ý tới yếu tố thực hòa trộn với yếu tố ảo, chất liệu đời thường quyện chặt với cảm nhận tâm linh.

Nhiều lắm những thương tiếc, ngậm ngùi, thổn thức trong các tác phẩm viết về liệt sĩ. Nhân vật trong thơ đôi khi là người thân của tác giả như trong bài “Phan Thiết có anh tôi” của Hữu Thỉnh: “Không nằm trong nghĩa trang/ Anh ở với đồi anh xanh vào cỏ/ Cỏ ở đây thành nhang khói của nhà mình/ Đồi ở đây cũng là con của mẹ/ Lo liệu trong nhà dồn xuống vai em”; hay “Bài thơ người đi tìm phần mộ em trai mình” của Dương Kỳ Anh: “Trước gió bão cuộc đời trôi dạt/ Giờ em nằm nơi đâu trong đất lành Tổ quốc/ Anh đi tìm phần mộ em suốt mười mấy năm trời/ Anh đi tìm nắm – đất – cuộc – đời – em, chỉ gặp toàn kỷ niệm…”. Một ngọn khói hương ngàn ngạt nơi nghĩa trang liệt sĩ cũng làm trào dâng bao lớp sóng tiếc thương, tưởng chừng nghe được những thầm thì xao xác từ miền xa thẳm: “Khói hương như thể mây mù/ Trắng trời lớp lớp lau gù đội tang/ Xạc xào gió lá ngụy trang/ Gió từ cõi đất gió sang cõi người!” (“Gió đất” - Lê Đình Cánh)…

Sự tri ân liệt sĩ thể hiện ở nhiều khía cạnh, trong đó không thể không kể tới các cuộc đi tìm đồng đội gian lao vất vả. Ở nhiều bài thơ, sự rung động từ trái tim người viết nhanh chóng truyền tải qua bạn đọc trong sự đồng cảm và chia sẻ vô cùng lắng đọng: “Xin cho đau nỗi đau rừng/ Cánh cò trắng cả một vùng trời xa/ Đón em về lại quê nhà/ Với thầy mẹ, với ông bà tổ tiên…”. (“Đưa em về” - Nguyễn Văn Hiếu). 

Tri ân còn thể hiện ở sự thấu hiểu những “tâm tư” của người nằm dưới mộ. Yếu tố tâm linh được đưa vào thơ rất hợp lý và giàu sức truyền cảm như trường hợp bài thơ “Lời thỉnh cầu ở Nghĩa trang Đồng Lộc” của Vương Trọng: “Cần gì ư, lời ai hỏi trong chiều/ Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu/ Ngày bom vùi tóc tai bết đất/ Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa gội được/ Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang…”.

Cũng cần phải nhắc tới những bài thơ viết về liệt sỹ trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế sau năm 1975. Đó là các bài thơ “Gặp lại các em” của Nguyễn Đình Chiến, “Tôi đã gặp anh” của Nguyễn Trọng Tạo, “Những ngọn sóng tỏa hương” của Trần Mai Hường, “Tổ quốc đón anh về” của Phan Vỹ… Anh linh những người lính ngã xuống nơi biên cương, biển đảo vẫn tỏa thơm giữa lòng đất nước: “Nơi các anh ngã xuống/ Máu đã thắm san hô/ Anh linh hòa sóng biếc/ Cứ tỏa hương từng giờ” (thơ Trần Mai Hường)…

Tháng bảy, đất nước ngàn ngạt khói hương cùng những bài thơ hướng về các liệt sĩ. Một cõi xa xôi thăm thẳm nhưng cũng quá đỗi gần gũi với dân tộc Việt Nam; cõi bất tử hội tụ những linh hồn hy sinh vì Tổ quốc sẽ mãi còn trong thơ như sự thương tiếc biết ơn không bao giờ vơi cạn. Thơ mang câu chuyện về những người ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì thống nhất hòa bình cho non sông, vì hạnh phúc của nhân dân. Thời gian càng lùi xa, những bài thơ viết về liệt sĩ càng lắng đọng. Không thể nói khác được, đó là sự biết ơn vĩnh hằng của nhân dân dành cho những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Thanh Khê

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...