Nhớ nhà văn Nam Cao

“Con cháu chúng tôi sẽ thả những bè hoa súng nơi hồ nước trong khu tưởng niệm, để quanh năm hoa nở bên cha, mong cha yên nghỉ nơi miền quê mà ông luôn nặng lòng, gắn bó”, bà Trần Thị Kim Khuyên - con dâu thứ của nhà văn Nam Cao khẽ khàng nói.

Những ngày cuối năm lạnh se sắt ở miền quê Hoà Hậu, Lý Nhân, Hà Nam, về thăm Khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao, chúng tôi lặng ngắm khuôn viên to rộng, khang trang, lặng nghe những câu chuyện xúc động về nhà văn trong niềm thành kính...

Chuyện kể của người con dâu nhà văn

Chiếc cầu đá cong cong dẫn lối từ đường lớn vào khu tưởng niệm, đi qua những cột đá uy nghiêm là tới khoảng sân rộng. Lăng mộ của nhà văn nằm bên trái, bên phải là nhà tưởng niệm. Sau nhà là vườn cây ăn trái. Trước nhà là hồ nước uốn quanh, hàng dừa tỏa bóng. Khung cảnh thoáng đẹp và bình yên.

Ngày 28/10/2023 vừa qua, Uỷ ban nhân dân huyện Lý Nhân đã tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp cho mộ và khu lưu niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao. Đó là một sự kiện trọng đại của tỉnh Hà Nam, thỏa niềm mong mỏi của người thân, người dân quê hương Nam Cao suốt bao nhiêu năm qua.

2.jpg -0
Ông Trần Hữu Vịnh giới thiệu về gia đình nhà văn Nam Cao cho khách tham quan Khu tưởng niệm.

Bà Trần Thị Kim Khuyên kể về gia đình: “Nhà văn Nam Cao có năm người con, hai gái, ba trai. Chị Trần Thị Hồng sinh năm 1938 là con cả. Người em gái là Trần Thị Bình Yên sinh năm 1944, qua đời khi chưa đầy hai tuổi. Ba người con trai là anh Trần Mai Thiên sinh năm 1941, chồng tôi là Trần Hữu Thành sinh năm 1947 và chú út Trần Hữu Thực sinh năm 1950. Hiện tại, các con của nhà văn không ai sinh sống ở quê hương Hòa Hậu. Chị cả Hồng sau thời gian sống ở thành phố Nam Định nay đã chuyển lên Hà Nội. Anh Trần Mai Thiên định cư ở nước ngoài. Gia đình tôi và chú Trần Hữu Thực đều ở thành phố Nam Định. Chồng tôi đã mất cách đây ba năm. Hiện tôi là người lo hương khói tổ tiên, thờ cúng bố mẹ chồng tôi”.

Là giáo viên đã nghỉ hưu, năm nay đã gần 80 tuổi, bà Khuyên vẫn khoẻ mạnh, minh mẫn. Những kí ức gia đình nhà văn từ khi về làm dâu bà vẫn nhớ như in. Từ thành phố Nam Định, bà vẫn thường xuyên đi về Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao để chăm sóc mộ phần của nhà văn.

Bà Khuyên hồi tưởng về ngày xa xưa, bà sinh ra và lớn lên ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam), cùng làng với gia đình nhà văn. “Thuở nhỏ, tôi hay chơi cùng hai con của nhà văn Nam Cao là Trần Hữu Thành và Trần Hữu Thực. Từ lúc bé tôi đã nghe tiếng mẹ chồng tôi là Trần Thị Sen đẹp người đẹp nết nổi tiếng ở làng. Mẹ tôi sinh năm 1917, kém nhà văn Nam Cao hai tuổi. Sau này, từ tình bạn thanh mai trúc mã, tôi và anh Thành nên duyên, tôi may mắn được làm con dâu cụ Sen, được cụ yêu quý, tin tưởng”, bà Khuyên nhớ lại.

Theo bà Khuyên, mẹ Trần Thị Sen là người góc nét, kĩ càng, tần tảo làm lụng. Sau khi nhà văn hy sinh, mẹ từ nơi tản cư bồng bế bốn người con trở về quê đang là vùng địch chiếm đóng. Những năm tháng chiến tranh tần tảo nuôi đàn con nhỏ dại, mẹ Sen vẫn canh cánh nỗi lòng khi chưa tìm được mộ nhà văn Nam Cao để đưa về quê hương. Đến khi con cái lớn khôn thì mẹ Sen đã tuổi cao sức yếu. Từ những năm 1970, cụ chuyển về sống với con gái Trần Thị Hồng ở thành phố Nam Định. Người dân Thành Nam đều khen cụ Sen đẹp lão, tóc trắng như cước, răng đen hạt na, da dẻ hồng hào.

Bà Khuyên nhớ lúc sinh thời, cụ bà Sen hay kể về nhà văn Nam Cao cho con cháu nghe. Nhà văn là người ít nói, kín đáo, luôn hết lòng hết sức với mọi nhiệm vụ được giao, từ viết văn, làm báo, đến làm Chủ tịch xã, dạy bình dân học vụ, làm công tác thuế... Sau khi nhà văn mất, cụ bà vẫn giữ gìn những kỉ vật của chồng. Đó là chiếc giường và tủ gỗ nhỏ đơn sơ đựng tài liệu. Đến nay những kỉ vật đó được lưu giữ tại nhà tưởng niệm. Năm 2002 thì cụ bà mất, thọ 85 tuổi. “Mẹ chồng tôi rất ưa màu hồng phấn. Tôi nhớ áo rét của mẹ tôi cũng có màu hồng. Đến tận bây giờ, mỗi khi viếng mộ mẹ, tôi vẫn kính dâng lên mẹ bó hoa hồng có màu mẹ ưa thích”, bà Khuyên kể.

Theo lời bà Khuyên thì con trai Trần Hữu Thành của nhà văn Nam Cao cũng thừa hưởng chút ít tâm hồn văn chương giống cha. Ông Thành khi còn sống là người giàu cảm xúc và hay làm thơ. Cho đến nay, bà Khuyên còn lưu giữ nhiều bài thơ của chồng viết về vợ con, lời thơ dung dị, chân thật. “Trong số ba người con trai, chồng tôi được nhận xét là người có ngoại hình giống cha tôi nhất. Và có lẽ tính cách nhà tôi cũng thừa hưởng nhiều nét từ cha tôi. Đó là đức tính hiền hậu, thật thà chất phác, yêu thương vợ con và có trách nhiệm với công việc và gia đình”.

Vì cùng làng nên bà Khuyên quen biết ông Trần Mai Thiên - con trai cả của nhà văn Nam Cao từ thuở nhỏ. Bà kể: “Anh Thiên là người có chí học hành, say mê nghiên cứu khoa học, từng là Viện trưởng Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1. Anh nổi tiếng với công trình nghiên cứu cá chép từ năm 1965, khi là sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Leningrad của Liên Xô trước đây. Nếu như nhà văn Nam Cao được Nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật thì Tiến sĩ Trần Mai Thiên được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ. Nay anh tôi đã nghỉ hưu và đang định cư ở nước ngoài. Mỗi dịp về Việt Nam ông đều về thăm quê và viếng mộ cha”.

Hướng dẫn viên đặc biệt

Trên khoảng sân rộng vang lên nhịp chổi đều đều của ông lão Trần Hữu Vịnh - người trông coi khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao. Thời trước, bố mẹ ông Vịnh rất gần gũi với gia đình nhà văn Nam Cao. Từ khi nhà tưởng niệm được xây dựng, ông Vịnh vì kính trọng và ngưỡng mộ tài năng văn chương của nhà văn Nam Cao nên tự nguyện trông coi.

Gần 20 năm qua, chưa một ngày nào ông sao nhãng phần việc mà ông tự coi là trách nhiệm, bổn phận của mình. Người làng bảo ông lão Vịnh nghiêm lắm, luôn giữ gìn khu tưởng niệm sạch đẹp, không ai dám vi phạm nội quy. Còn du khách đã từng đến đây đều ngạc nhiên, thích thú vì không ai nghĩ ông lão đã hơn 70 tuổi, dáng vẻ gầy gò, chân quê lại kiêm luôn cả việc thuyết minh giới thiệu về khu lưu niệm có duyên đến vậy.

3.jpg -1
Toàn cảnh khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao tại Hà Nam.

Gần 20 năm qua, ông Vịnh luôn dành thời gian đọc tác phẩm của nhà văn, tìm hiểu về cuộc đời nhà văn, cập nhật đầy đủ những sự kiện liên quan đến nhà văn. “Giờ tất cả đều ở trong đầu tôi, từng mảng, từng giai đoạn cuộc đời nhà văn đều hiện lên một cách rành mạch để có thể nói lại cho du khách”, ông Vịnh chia sẻ. Hỏi đến phần nào về thân thế và sự nghiệp nhà văn Nam Cao ông Vịnh cũng có thể kể thành những câu chuyện đầy cuốn hút.

“Ngày 30/11/1951, khi đang trên đường đi công tác tuyên truyền thuế nông nghiệp tại cánh đồng Mưỡu Giáp thuộc xã Gia Trấn, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, nhà văn Nam Cao cùng tốp cán bộ hy sinh do bị địch phục kích. Khi ấy nhà văn mới 36 tuổi. Gần nửa thế kỉ sau, sau bao tháng ngày các con cháu của nhà văn Nam Cao lận đận tìm mộ ông, ngày 18/1/1998, chương trình "Tìm lại Nam Cao" với sự tham gia của nhiều cơ quan, đoàn thể đã đưa hài cốt nhà văn từ Ninh Bình về, yên nghỉ tại khuôn viên khu lưu niệm”, dẫn chúng tôi ra thắp hương cho nhà văn, ông Vịnh kể lại, giọng bùi ngùi xúc động.

Ông nói về di ảnh của nhà văn, giới thiệu về hình tượng trang sách mở khắc lời tuyên ngôn nghệ thuật trích trong 2 tác phẩm "Đời thừa" và "Nhật ký ở rừng". Rồi ông đọc lại trôi chảy, nhấn nhá những tuyên ngôn nghệ thuật trên trang sách ấy. Qua lời ông, một thế giới nhân vật trong các tác phẩm của Nam Cao như hiện lên sinh động với Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến, Lão Hạc,… Theo ông Vịnh, khu tưởng niệm hiện nay nằm chính trên đất của nhà hai cụ Trùm San và Trùm Luông - hai nguyên mẫu là người thực của làng Đại Hoàng xưa. Nhà văn Nam Cao đã dựa vào hai nguyên mẫu này để xây dựng nên nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên.

Năm 2001, công trình Nhà tưởng niệm nhà văn được khởi công trên khu đất rộng hơn 5.000m2, đến năm 2004 thì hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 53 năm ngày nhà văn hy sinh. Năm 2011, nhân kỷ niệm 60 năm ngày mất nhà văn, các tài liệu, hiện vật gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của nhà văn được sắp đặt lại trong không gian nhà tưởng niệm theo 4 mảng gồm: Quê hương và gia đình; Cuộc đời và sự nghiệp; Tìm lại Nam Cao và Những hoạt động tưởng niệm, tôn vinh nhà văn. Đến hôm nay, Khu tưởng niệm đã trở thành di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia, là nơi ghi lại dấu ấn đặc biệt của nhà văn Nam Cao - một phong cách văn chương độc đáo, một cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, đã có những đóng góp to lớn cho văn học, văn hóa, báo chí hiện đại Việt Nam.

Huyền Châm

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.