Nhớ một nhạc sĩ hồn nhiên như trẻ thơ

Mụ nặn cho ông một khuôn mặt thanh tú, nhẹ nhõm, rất tươi, rất hiền như con gái. Ngay cả đến khi đã già yếu, sắp rời cõi tạm, mặt hom hem, hốc hác mà vẫn luôn vui tươi. Đặc biệt tính cách của ông thì rất hồn nhiên như trẻ thơ. Quả là hiếm thấy một người như vậy.

Ông là cố nhạc sỹ Trần Hữu Pháp (1933-2019), tác giả nhiều ca khúc nói đến những dòng sông, trong đó có bài “Dòng sông ai đã đặt tên” viết về Huế nổi tiếng với lời lẽ thật tha thiết, nhớ thương: “Dòng sông ai đã đặt tên để người đi nhớ Huế không quên. Xa con sông mang theo nỗ nhớ. Người ở lại tháng năm đợi chờ….”. 

Bài này liên quan đến người bạn đời của ông có tên Như Thuần. Nàng người Huế. Sau lần đầu gặp gỡ, trong ông như nổ ra “tiếng sét ái tình”. Nhưng rồi phải chia xa, tưởng như tất cả chỉ như thế. Nào ngờ ngày tiễn chân những người con quê hương ra tập kết ở miền Bắc (sau Hiệp định Geneva năm 1954), chàng gặp lại nàng. Thế là kỷ niệm được nối tiếp và duyên số đã gắn họ lại với nhau để trở nên vợ chồng. Và Trần Hữu Pháp viết bài này để tặng nàng. Cũng từ đó, ông gắn chặt cuộc đời mình với “xứ mơ màng, xứ thơ” mặc dù quê ở Bình Định.

cố nhạc sỹ Trần Hữu Pháp
cố nhạc sỹ Trần Hữu Pháp

Ra Bắc, Trần Hữu Pháp vào đội văn nghệ Thanh niên xung phong, rồi chuyển qua làm báo ở tờ Tiền phong. Sau về Nhà xuất bản Âm nhạc. Trước khi trở vào miền Nam sau ngày thống nhất đất nước, có nhiều năm, ông là Trưởng ban Văn nghệ Đài Phát thanh Hà Nội. 

Dạo năm 1965, đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, một đoàn nhạc sỹ vào tìm hiểu thực tế ở Quảng Bình để sáng tác. Những ca khúc hay đã ra đời trong dịp này được công chúng hào hứng đón nhận: “Quảng Bình quê ta ơi!” (Hoàng Vân), “Bám biển quê hương” (Phạm Tuyên), “Giữ biển trời Quảng Bình, Vĩnh Linh” (Xuân Giao), “Chiến thắng sông Gianh” (Mộng Lân), “Trên biển quê hương” (Đức Minh)… 

Còn có một bài nữa cũng rất đáng yêu của Trần Hữu Pháp: “Em bé Bảo Ninh” viết về những em nhỏ ở Bảo Ninh (Quảng Bình) vô cùng dũng cảm, không sợ hiểm nguy đã xung phong cùng nhau truyền tay tiếp đạn cho các chú dân quân bắn máy bay phản lực của Mỹ: “Em bé Bảo Ninh bên dòng Nhật Lệ. Dưới trời lửa khói, em như cánh tên bay trên cồn cát, rẽ gió xông lên…”. 

Bài hát có giai điệu nhẹ nhàng, giản dị, ngọt ngào thật dễ thương. Xin có một đính chính: Đây là ca khúc viết về thiếu nhi, để người lớn hát cho thiếu nhi nghe chứ không phải là ca khúc thiếu nhi như nhiều người vẫn lầm tưởng. Tất nhiên, thiếu nhi hát cũng được vì dễ hát, toàn bài có âm vực hẹp. Vậy nên trên Đài mới thu thanh giọng ca sỹ nổi tiếng Kiều Hưng chứ không phải là em thiếu nhi nào hát. 

Có lần tôi được nghe Trần Hữu Pháp kể về sự ra đời bài hát này: Vào tuyến lửa Quảng Bình lần ấy, ông bị choáng ngợp trước một thực tế vô cùng sinh động, khẩn trương của cuộc sống vừa sản xuất, vừa chiến đấu của người dân nơi đây - một thực tế ông chưa từng được nếm trải. Ông cũng nghe người dân kể về các em thiếu nhi cũng tham gia chiến đấu cùng các chú dân quân bằng việc truyền tay nhau tiếp đạn. Ông chú ý tới sự việc này và quyết định đó chính là chủ đề cho ca khúc của mình. 

Đang loay hoay chưa biết bắt đầu như thế nào thì tình cờ Trần Hữu Pháp đọc được bài thơ “Em tôi” của Nguyễn Văn Dinh. Thế là ông ngồi phổ thành bài hát chỉ trong vòng vài giờ. Đến ngày báo cáo tác phẩm cho lãnh đạo địa phương nghe, các nhạc sỹ khác đều hát được. Riêng Hoàng Vân hát hay nhất, trong khi Trần Hữu Pháp hát dở nhất. Giọng ông cứ như hết hơi và lạc điệu lung tung. 

Thấy vậy, trước buổi báo cáo, mọi người khuyên ông không nên tự hát, sẽ “giết” tác phẩm của mình mà nhờ Xuân Giao hoặc Hoàng Vân hát hộ. Nhưng Trần Hữu Pháp nói rất hồn nhiên: “-Tôi hát không hay nhưng là con đẻ tinh thần của mình, tôi phải hiểu nó nhất nên người nghe sẽ thông cảm mà bỏ qua yếu tố giọng”. “- Nhưng ông hát vừa chệch nhịp lại vừa không đúng giai điệu”. “-Thì những chỗ sai như thế nhờ các ông hát lại cho chuẩn nốt”. Mọi người cười rộ bởi sự hồn nhiên của nhạc sỹ họ Trần. 

Có lần ở một nơi khác, Trần Hữu Pháp có ý khoe sáng tác mới. Đã có ca sỹ bên cạnh sẵn sàng hát hộ nhưng ông vẫn tự hát. Một người nói thẳng với ông: “- Anh đừng hát sẽ tự hại mình đấy”. Trần Hữu Pháp lại nói: “-Tôi phải hát trước để ca sỹ họ được nghe thêm một lần, lát sau hát sẽ vững vàng hơn”. Mọi người lại cười rộ: “Nhưng anh hát có ra được giai điệu đâu mà nghe theo”.

Nhạc sỹ Trần Hữu Pháp trong buổi lễ mừng thọ ông 80 tuổi.
Nhạc sỹ Trần Hữu Pháp trong buổi lễ mừng thọ ông 80 tuổi.

Tôi nhớ mãi lần vào Huế có tìm đến thăm Trần Hữu Pháp cách đây chừng mươi năm. Sau đến mấy chục năm chúng tôi mới gặp lại nhau nên vui vẻ, cảm động lắm. Cứ nghĩ ông sẽ không nhận ra. Nào ngờ, nhìn thấy tôi, ông đã reo luôn tên tôi và đến ôm chầm rồi cứ vỗ vỗ mãi vào vai tôi. Ôm chặt đến nghẹt thở và khá lâu mới buông ra khiến tôi đang nóng nực lại càng khó thở hơn tuy trong lòng rất cảm động và phấn chấn. 

Lúc đó mới vào khoảng 10 giờ sáng. Sau khi buông nhau ra, ông nói luôn: “- Thôi, trưa rồi. Ra quán ăn cơm cho tiện. Ở nhà chẳng có gì”. Lúc này bà xã của ông mới cất lời: “-Anh buồn cười nhỉ. Để chú ấy tắm rửa, nghỉ ngơi chút đã chứ. Còn sớm mà”. Trần Hữu Pháp nói luôn: “- Ra quán nói chuyện luôn. Đi sớm để còn lai rai lâu”. Bà Như Thuần – phu nhân của ông - nói xong ra sau, tưởng chồng nghe lời mình. Thế là ông dẫn tôi ra quán luôn với bộ pi-ja-ma nhầu nhĩ đang mặc trên người mà không hề thay trang phục. 

Ra quán, ông gọi rất nhiều đồ ăn, bầy chật cả bàn. Tôi nói: “- Sao anh gọi chi nhiều quá vậy. Ăn sao hết. Thừa sẽ phí”. Ông cười – vẫn nụ cười tươi với hàm răng đều chằn chặn, trắng bong như thời trẻ: “- Ăn bằng hết. Cậu còn trai tráng phải ăn khỏe chứ. Cứ yên tâm. Mình vừa lĩnh được một khoản nhuận bút đủ để nhậu mấy ngày liền nếu cậu chịu ở đây với mình”. 

Thấy ông hồn nhiên như là quên bẵng tuổi người bạn vong niên trước mặt (lúc ông còn ở Hà Nội, chưa vào Huế, tôi và ông khá thân thiết, luôn gặp nhau), tôi nói: “- Anh ơi! Tôi đã trên 60, về hưu mấy năm rồi, còn trai tráng nỗi gì?”. Ông trợn tròn mắt: “-Xạo! Chi nhiều vậy? Cậu ngoài 50 chút xíu chứ mấy”. “- Trời! Anh nhớ lại đi. Năm 1970, lần đầu tiên tôi được gặp anh tại Đài Phát thanh Hà Nội ở 26 phố Hàng Dầu. Anh em hợp “cạ” rồi trở nên thân thiết. Khi ấy tôi 24 tuổi. Nay đã là năm 2011. Hơn 40 năm đã trôi qua mà vẫn chỉ ngoài 50 tuổi sao?”. 

Nói đến đây, tôi thấy ông khẽ gật gù rồi mơ màng như chìm đắm vào dĩ vãng đầy ắp những kỷ niệm về quãng thời gian sống, làm việc tại Hà Nội. Cả hai chúng tôi đều không ai uống được bia, rượu nên dù cuộc hàn huyên rất vui nhưng cũng chỉ ngồi được chưa tới một giờ.

Lúc đứng lên trả tiền, ông moi mãi trong các túi áo rồi ngẩn ngơ nói với người chủ quán: “Thôi chết, tôi quên không mang theo tiền. Cho tôi chịu vậy nhé. Lát nữa sẽ đem trả ngay”. Tôi lấy tiền trả nhưng ông kiên quyết gạt đi, nói: “- Cậu làm vậy, mình giận đấy”. Người chủ quán nói: “-Ai chứ nhạc sỹ nổi tiếng, lại gần nhà đây thì bao giờ trả cũng được. Vả lại, hai ông ăn hết ít, nhiều món chưa đụng đũa nên tôi không lấy tiền. Tất cả chẳng bao nhiêu”. 

Tôi lấy làm thú vị về sự đãng trí, hồn nhiên của ông. Cứ mặc nguyên bộ đồ ở nhà ra quán, lại còn quên không mang theo tiền. Vào quán cứ hồn nhiên gọi đủ các món. Ăn xong, còn gần như nguyên xi vì quá nhiều.

Nhiều người còn đồn đại việc Trần Hữu Pháp xử lý tác phẩm của người khác thời gian ông phụ trách văn nghệ ở Đài PT&TH Huế. Đó là việc ông cứ “hồn nhiên” sửa chữa trước khi sử dụng, bất kể tác giả là ai, nổi tiếng hay chưa, là nhạc sỹ chuyên nghiệp hay nghiệp dư. Nhiều người phản ứng, tỏ rõ không hài lòng thì ông nói: “- Mình chỉ muốn tác phẩm hay hơn”. Họ bực mình: “-Đó là theo ý ông chứ người khác sẽ thấy sửa như vậy là lợn lành chữa thành lợn què”. Có người tự ái, nói thẳng: “- Ông cần tôn trọng tác giả chứ. Ông làm vậy, còn ai muốn gửi bài đến nữa”. 

Nhưng Trần Hữu Pháp làm việc đó cũng hồn nhiên mà không nghĩ mình thiếu tôn trọng các tác giả. Bởi vì chắc không nhiều nơi làm được một việc sau đây như ông: Sau khi bài của ai được thu thanh, ông cho nhân viên gửi giấy báo, cảm ơn và mời đến Đài lĩnh tiền nhuận bút, đồng thời nói rõ ngày, giờ phát bài hát trên sóng để họ đón coi. Xử sự này chắc chắn sẽ không thể của một người thiếu tôn trọng tác giả. Nhưng rồi ông cũng rút kinh nghiệm, trước khi sửa chữa đã trao đổi với tác giả. 

Một đời đạm bạc, chỉ biết có đi thực tế và sáng tác, lại sống hồn nhiên, vô tư và giàu lòng nhân ái với tất thảy mọi người, sự ra đi của Trần Hữu Pháp đã để lại nỗi thương tiếc lớn cho công chúng, nhất là những người từng yêu quý những tác phẩm của ông.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.