Nhớ một họa sĩ đoản mệnh

Người bạn tôi giới thiệu đó là họa sĩ Tường Vân - cái tên thật quá đối lập với con người - làm việc ở Đoàn Kịch Hải Phòng với nhiệm vụ chuyên thiết kế sân khấu cho các vở diễn. Từ đó, tôi và anh trở thành bạn của nhau. Sau này, khi tôi chuyển về làm việc ở Báo Văn hóa - Nghệ thuật (cơ quan ngôn luận của Bộ Văn hóa), có nhiều dịp về Hải Phòng, khi thì dự các Liên hoan, Hội diễn, khi thì đi thực hiện bài vở, đều tìm đến thăm Tường Vân.

Cứ mỗi dịp về Hải Phòng là tôi lại nhớ một gương mặt họa sĩ độc đáo, rất cá tính, gặp một lần cũng thật khó quên. Nhớ lại lần đầu tiên vào năm 1973, một người bạn đến chơi với tôi ở Hà Nội có dẫn một người đàn ông xa lạ đi cùng. Anh ta thật khó đoán tuổi bởi có dáng người và khuôn mặt quá lam lũ, nhếch nhác. Đầu tóc thì bù xù, quần áo rất nhăn nhúm, lôi thôi, luộm thuộm. Làn da đen xạm, nhầu nhĩ, bám đầy bụi. Có cảm giác như anh ta vừa từ một công trường lao động nào đó đến, chưa kịp tắm rửa, thay áo quần.

Nhớ một họa sĩ đoản mệnh -0
Cố họa sĩ Tường Vân (1942 - 1987).

Tôi không bận tâm nhiều đến vẻ bên ngoài mà chú trọng đến phẩm chất nội dung, đặc biệt là tâm hồn và trí tuệ, nhất là đối với đàn ông. Thậm chí tôi còn dị ứng với những người chải chuốt, bóng bẩy mà tâm hồn rỗng tuếch, kém hiểu biết. Ngay phút đầu, anh ta đã nở nụ cười thật dễ mến mặc dù để lộ hàm răng đen xỉn của người nghiện thuốc, trà. Khi anh ta cất lời thì phả ra mùi rượu nồng nặc. Quả là cho đến khi ấy, tôi chưa gặp một văn nghệ sĩ nào quá “lập dị” như vậy.

Nhưng anh ta là bạn của bạn tôi và có dáng vẻ cũng thật thà, chân thành nên tôi vào chuyện dễ dàng, không có khoảng cách. Cùng có máu “nghệ” nên thường dễ đồng cảm và nhanh chóng trở nên gần gũi. Tôi khi ấy mới là một giáo viên dạy văn, chưa có hoạt động văn nghệ gì đáng kể nên tất nhiên là anh bạn mới kia chưa thể biết. Và tôi cũng chưa biết gì về anh. Nhưng khi anh đọc cho nghe mấy bài thơ thì tôi đã thực sự có cảm tình bởi khá độc đáo, rất có cá tính, không dễ lẫn lộn với người khác.

Người bạn tôi giới thiệu đó là họa sĩ Tường Vân - cái tên thật quá đối lập với con người - làm việc ở Đoàn Kịch Hải Phòng với nhiệm vụ chuyên thiết kế sân khấu cho các vở diễn. Từ đó, tôi và anh trở thành bạn của nhau. Sau này, khi tôi chuyển về làm việc ở Báo Văn hóa - Nghệ thuật (cơ quan ngôn luận của Bộ Văn hóa), có nhiều dịp về Hải Phòng, khi thì dự các Liên hoan, Hội diễn, khi thì đi thực hiện bài vở, đều tìm đến thăm Tường Vân.

Lúc chưa lấy vợ, anh ở trong một căn phòng chỉ 10m2, bề bộn đủ thứ quần áo, sách vở, tranh vẽ thì treo kín hết tường, nhét chật cả dưới gầm giường. Thỉnh thoảng lại có những chú chuột kêu lích rích chạy qua. Tôi nói anh phải tìm cách diệt chuột chứ không thể sống chung như vậy thì anh nói có tiếng chuột cũng vui, đỡ cảm giác cô đơn.

Giới sân khấu và làm thơ ở Hải Phòng nhiều người biết Tường Vân. Anh mà thiết kế mỹ thuật cho các vở diễn thì từ đạo diễn, Trưởng đoàn đến các diễn viên đều hài lòng. Anh thiết kế sân khấu cho các đoàn kịch nói, cải lương, chèo phải đến cả trăm vở. Người ta quý cái tinh thần làm việc hết mình, không tính toán vụ lợi và cái “gu” thẩm mỹ sành của anh. Thường thì họa sĩ chỉ thiết kế, còn triển khai cụ thể (như thi công bên xây dựng) là công việc của người khác. Nhưng rất nhiều khi anh làm luôn nếu Đoàn nào yêu cầu mà không tính toán, so đo tiền thù lao. Anh làm việc trong bất cứ hoàn cảnh nào để chạy theo thời gian. Nhiều khi mệt quá, ngủ luôn trên cái đống nguyên vật liệu bề bộn ngổn ngang tại “hiện trường”. Vậy nên anh được nhiều người quý mến.

Không chỉ có cái tâm với nghề, với đồng nghiệp, Tường Vân còn khiến không ít người ngạc nhiên khi thấy anh làm nên những bài thơ khá hay, độc đáo. Làm thơ có vẻ như công việc dễ dàng nhất trong các sáng tác văn nghệ (so với viết kịch bản, viết truyện, làm nhạc, vẽ…). Và hầu như ai cũng có thể làm ra được vài câu lục bát. Nhưng hay, gây ấn tượng mạnh, khiến người đọc thích thú thì cực khó. Không ít nhà thơ được coi là chuyên nghiệp mà cả đời không để lại được một câu thơ nào đáng nhớ. Tường Vân tự xác định chỉ chơi thơ, làm thơ như một thú tiêu khiển hoặc để giải tỏa một trạng thái tâm lý nào đó nhưng những vần thơ anh viết ra thực sự xứng đáng là thơ - chứ không chỉ là văn vần.

Trong một lần gặp gỡ, thù tạc bạn bè, sau ly rượu, khi đã ngà ngà, Tường Vân xuất khẩu ngay được mấy câu thơ tự vẽ chân dung mình thật thú vị: “Miệng cười mà mắt khóc/ Ai nhớ mình nào đâu/ Cảm quan của thằng ngốc/ Bày ra lắm sắc màu/ Ai nhớ mình đây nhỉ/ Hay chính mình nhớ mình/ Xòe đôi bàn tay trắng/ Họa tiết đời rung rinh”. Ngay câu đầu tiên của bài thơ trên đã báo hiệu một số phận, một cuộc đời không bình thường, buồn nhiều hơn vui, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc, rủi ro nhiều hơn may mắn. Quả đúng như vậy, Tường Vân mãi mới lấy được vợ. Lấy rồi thì hạnh phúc cũng sớm đội nón ra đi, ném anh về cô lẻ. Và số phận chỉ cho anh có mặt trên cõi tạm được 45 năm (1942 - 1987).

Con người tưởng như vô tư, hồn nhiên, chẳng còn biết gì ngoài họa và thơ mà những gì anh viết ra thật chua chát, cay đắng. Bài “Con chó” rất ngắn gọn, có tứ thơ thật độc đáo, triết lý nhẹ nhàng mà sâu sắc làm sao: “Bảo: Ra đường! Ra đường/ Bảo: Nằm gậm giường! Nằm gậm giường/ Bảo: Thôi, không cắn! Lặng im/ Cứ thế triền miên/ Một đời con chó”.

Bên trong cái vẻ xù xì, thô ráp của Tướng Vân là cả một thế giới âm ỉ ước muốn, cháy bỏng khát vọng yêu đương. Lại một tứ thơ lạ nữa biểu hiện đến tột cùng sự bạo liệt, khát thèm tình yêu si cuồng của anh: “Cứ đêm về em lại đem tôi ra bắn/ Cuộc hành quyết này thầm lặng/ Tưởng như chẳng có chuyện gì/ Cứ đêm về tôi bơi trong máu/ Máu tim tôi và máu tim em/ Máu của những ngày xưa lặng lẽ/ Máu của những ngày sau màu đen…”. Có cảm giác như thơ của một người mắc bệnh tâm thần nhưng nói như một ai đó thật chí lý: Thơ phải điên điên một chút mới hay!

Nhớ một họa sĩ đoản mệnh -0
Bìa tập thơ “Úp mặt vào thời gian” của Tường Vân.

Giới mày râu vẫn hay ngộ nhận rằng phái nữ thường mê những anh chàng có tài về văn, thơ, nhạc, họa. Có thể như vậy. Nhưng đó chỉ là “mê” một cách cảm tính, chứ khi lựa chọn ý trung nhân để gắn bó trọn đời thì họ lại cần người chỉn chu, chí thú làm ăn, giản dị và chắc chắn. Đó mới thực sự là bến đỗ bình yên của họ. Có chút tài nào đó về văn nghệ có khi lại “phản tác dụng” trong mắt các chị em. Họ dễ cho những người có chất “nghệ” này là không bình thường.

Ở Tường Vân thật rõ điều này. Ai cũng công nhận anh rất tốt, rất hiền. Phụ nữ nhiều người thấy thương anh bởi chẳng bao giờ biết tự lo cho bản thân, bởi cuộc sống luôn cô đơn, chẳng có ai chăm chút. Nhưng đều lắc đầu nếu có ai đó gợi ý mai mối, bắc cầu hạnh phúc cho anh. Anh chỉ có duyên với công việc - được tất thảy các đoàn ghi nhận hiệu quả từ thiết kế sân khấu của anh, ra bài thơ nào là sẽ có ít nhất một người thích thú, xin chép. Nhưng lại không có duyên với các khách má hồng.

Tiếp xúc, nom cái bộ dạng và nhất là đến phòng anh ăn ở thì không cô nào dám nâng khăn sửa túi cho anh. Riêng có một cô cũng là họa sĩ tên Tú Quyên có tình cảm đặc biệt với Tường Vân. Nhưng cô cũng khó “tiêu hóa” cái bài thơ có câu đầu tiên: “Cứ đêm về em lại đem tôi ra bắn” đã dẫn ở trên. Chỉ đến bài thơ anh làm tặng cô mới khiến cô xúc động mãnh liệt và nhận lời đến với anh: “Mẹ anh mất khi anh chưa biết khóc/ Rồi cuộc đời đơn độc đến tìm anh/ Em yêu anh và anh đã khóc/ Chiếc khăn tay đẫm nước mắt tình yêu”. Cô họa sĩ tên Tú Quyên ngưỡng mộ tài năng của Tường Vân nhưng chưa đủ để ký thác cuộc đời mình. Chỉ khi những câu thơ rất run rẩy, rất thật thà thể hiện sự thiệt thòi lớn của Tường Vân mới khiến cô mềm lòng. Đã như vậy, cô chấp nhận mọi điều ở người mình yêu, lại thấy hay hay, độc đáo.

Do quý, thương mà đám cưới của Tường Vân với Tú Quyên được nhiều người tới dự. Hôn lễ được tổ chức đơn giản, xuềnh xoàng đến mức không thể giản tiện hơn. Ngày ấy, tại phòng cưới, phổ biến nhất là có một cái phông làm nền. Trên đó, người ta hay đính đôi chim bồ câu quấn quít vào nhau bên cạnh hai chữ cái là chữ đầu tên của cặp uyên ương. Và một dòng chữ to nổi bật ở giữa phông: “Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ”. Tường Vân đã phá cái lệ đó mà thay vì chỉ có một dòng chữ duy nhất do chính tay anh tạo nên: “Tường Vân và Tú Quyên lấy nhau”. Thấy vậy, nhiều người thích thú, được một phen cười thoải mái. Nhưng cũng không ít người kêu, cho rằng chủ nhân của đám cưới không nghiêm túc, không tôn trọng chính bản thân mình và mọi người. Nhưng Tường Vân là như thế.

Hạnh phúc của anh không duy trì được lâu. Tuy vậy, sau khi anh mất vào năm 1987, người vợ Tú Quyên đã cùng bạn bè gom góp thơ của anh để xuất bản thành tập “Úp mặt vào thời gian”, được bạn đọc tán thưởng. Vĩnh viễn ra đi khi tuổi đời còn trẻ, chưa thỏa những ước muốn về họa và thơ nhưng Tường Vân cũng kịp để lại hàng trăm bức vẽ, bản thiết kế cho sân khấu và một tập thơ độc đáo đầy cá tính như con người anh vậy.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.