Nhớ mãi nhạc sĩ Vũ Thanh

Vũ Thanh (1933 - 1997) là một tên tuổi quen biết trong làng nhạc Việt Nam hiện đại, tác giả của nhiều bài hát nổi tiếng: “Lời anh vọng đến ngàn năm”; “Bài ca Hà Nội”; “Hà Nội mùa thu”; “Vũng Tàu biển hát”; “Cảm xúc trên đường PhNôngpênh”; “Cá lội đồng xanh”; “Đỉnh gió Na Dương”; “Đêm trăng Chư Prông”... và một ca khúc thiếu nhi được rất nhiều em nhỏ ưa thích “Em đi trong tươi xanh”.

Mỗi lần đến Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN), đi qua khu tập thể Đài này ở 128C Đại La (Hà Nội) hoặc dự bất cứ sinh hoạt nào ở Hội Nhạc sỹ Viêt Nam, tôi lại nhớ ông khôn xiết. Nỗi nhớ này thật đặc biệt, cứ như đối với người rất thân yêu, ruột thịt vậy. Có lẽ bởi tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc với ông và còn mang nặng ơn ông trong việc nâng đỡ, dìu dắt trên bước đường sáng tác. 

Cố nhạc sỹ Vũ Thanh.
Cố nhạc sỹ Vũ Thanh. 

Vũ Thanh có quê gốc ở Từ Liêm (Hà Nội) nhưng lại được sinh ra và lớn lên ở Phú Thọ. Tuổi thơ của ông gắn với vùng đất trung du thơ mộng này. Thấy tôi khi đang còn là sinh viên đã thuộc lòng và rất thích hát những bài của ông khi đó đang lan tỏa nên ông quý tôi chăng?. Tôi kém ông hơn một con giáp, lại chỉ như một học trò trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc. Vậy mà ông rất bình đẳng trong quan hệ, thể hiện ở cách xưng hô và mọi cư xử. Ông luôn “ông, tôi”, xuề xòa và thân thiện cứ như cùng trang lứa vậy. 

Tôi bắt đầu quen biết và chơi với ông từ lúc là tôi còn là sinh viên Văn khoa, Trường Đại học Tổng hợp (nay là Đại học KHXH&NV). Ngày ấy, tôi thường xuyên hát hai bài “Lời anh vọng đến ngàn năm” (viết về người thợ điện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi) và “Bài ca Hà Nội” (viết về Hà Nội chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ) nhưng chưa được gặp tác giả. Khi tiếp xúc, tôi rất ngưỡng mộ Vũ Thanh. 

Mỗi lần gặp ông ở nhà riêng tại khu tập thể 128C Đại La, ông lại đệm piano cho tôi hát các bài của ông. Ông khen tôi hát hay và đã giới thiệu tôi sang thử giọng để thu cho buổi phát thanh binh vận. Ông bảo rằng giọng tôi trầm, ấm, rất phù hợp với lối hát thủ thỉ, tâm tình khi thể hiện những bài hát khuyên nhủ binh lính phía bên kia trở về với cách mạng hơn là hát ở làn sóng do ông đang phụ trách vì ở đây cần sự hùng dũng, sôi động. (Lúc này Vũ Thanh là Phó ban Âm nhạc của Đài TNVN). 

Để thuận tiện, ông sáng tác luôn một bài binh vận và trao cho tôi hát để chuẩn bị thu thanh. Ông tỏ ra rất khó tính. Lúc đầu ông nói tôi hát hơi bị cứng. Đến khi tôi sửa thì ông lại nói hát mềm quá như nhạc vàng. Thế là tôi phải sửa đi sửa lại cho đúng yêu cầu của ông: “Rất nhẹ nhàng, tình cảm nhưng không được nỉ non, sướt mướt”. 

Được nhạc sỹ Trọng Loan (nay cũng đã mất) – người phụ trách làn sóng nhạc binh vận chấp nhận thu chính thức, tôi rất vui và trở nên tự tin hơn. Thế là sau đó, tôi thu được tới cả chục bài. Đến bây giờ, tôi vẫn còn biết ơn mãi Vũ Thanh. Nhờ ông chỉ bảo và khó tính mà tôi bỗng làm ca sỹ một thời gian. 

Tôi “ngồi chơi xơi nước” tới quá nửa năm – trong khi các bạn khác cùng lớp đã đi làm ngay chỉ vài tuần sau khi tốt nghiệp đại học. Lý do vì bị tổ chức nhà trường “cảnh cáo” do phân về đâu cũng không nhận mà đòi được về nơi đúng ý mình. (Ngày ấy, sinh viên chúng tôi khi ra trường rất “đắt hàng” chứ không phải tự lo công việc như bây giờ. Không ít bạn còn được nhiều cơ quan xin về làm việc như đã nói). 

Vũ Thanh gợi ý sẽ giới thiệu tôi xuống Đoàn Ca nhạc của Đài làm hợp đồng. Ông nói hãy cứ tham gia hát tốp ca, hợp ca. Ở dưới đó họ thấy giọng có thể đơn ca được thì sẽ thu đơn ca. Lúc này ở đây đã có các nam ca sỹ Trần Khánh, Trần Thụ, Thịnh Trường… nổi tiếng từ lâu. Nghe Vũ Thanh gợi ý, tôi băn khoăn vì thực bụng chỉ muốn hát đơn ca ngay chứ tốp ca thì không thích. 

Đang lưỡng lự, không biết có nên nghe lời khuyên của Vũ Thanh không thì tôi nhận quyết định đi làm. Vũ Thanh lúc này mới khuyên tôi trở lại với chuyên môn văn chương, kẻo học 4 năm mà rẽ ngang thì phí. Ông cũng khích lệ tôi sáng tác. Ông đã nhiều lần sửa bài cho tôi và ký cho sử dụng trên làn sóng. Tuy nhiên, để được ông chấp nhận, tôi phải sửa chữa rất nhiều lần, nát bét cả bản thảo. Có bài phải viết lại, cả năm sau mới được ông ký. Thế là tôi đã không trở thành ca sỹ chuyên nghiệp mà thành người sáng tác. 

“Em đi trong tươi xanh”, nhạc và lời của nhạc sỹ Vũ Thanh.
“Em đi trong tươi xanh”, nhạc và lời của nhạc sỹ Vũ Thanh.

Hẳn nhiều người còn nhớ một sự việc xảy ra vào ngày 15/10/1964: Chính quyền Sài Gòn dưới thời Nguyễn Khánh đã xử bắn người thợ điện có tên Nguyễn Văn Trỗi bởi anh đã giết hụt Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara dịp ông ta sang thăm Sài Gòn vào tháng 4 cùng năm này. Sự việc gây rúng động cả nước khi ấy bởi tử tù tại pháp trường đã không cần bịt mắt, miệng hô vang: “Ðả đảo bọn xâm lược Mỹ và tay sai! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. 

Vũ Thanh kể rằng ngay sau đó, Giám đốc Đài khi ấy là Trần Lâm chỉ thị cho các nhạc sỹ ở Đài sáng tác bài hát để ca ngợi người anh hùng này. Nhưng không hiểu sao, mọi thông tin ban đầu đều ghi nhận tên anh là Nguyễn Văn Trôi (không có dấu “ngã”). Vậy là hàng loạt ca khúc ra đời đều có lời hát là “Nguyễn Văn Trôi…”. 

Ông Trần Lâm về sau đề nghị các nhạc sỹ sửa lại “Trôi” thành “Trỗi”. Nhưng chính Vũ Thanh đã mạnh dạn đề đạt với “sếp” rằng sửa lại cả chục bài rất rắc rối vì hồi đó chưa có kỹ thuật thu thanh hiện đại, chỉ cần sai một tiếng là phải thu lại cả bài (Bây giờ thì chỉ cần “vá” tiếng hát sai là được). Hơn nữa, nếu giữ nguyên nốt nhạc thì chỉ có thể là Trôi, hát thành Trỗi thì buộc phải sửa thành nốt khác, sẽ không thể hay. Trần Lâm đã nghe. 

Vậy là tên người anh hùng đã được đổi trong ca khúc là thế. Nhưng công chúng và ngay cả chị Phan Thị Quyên - vợ anh Trỗi - khi nghe bài hát cũng chấp nhận. 

Tôi không thể quên những lần đi thâm nhập thực tế sáng tác cùng Vũ Thanh. Trừ khi cơ sở mời đích danh nhạc sỹ, còn nếu không thì bao giờ ông cũng rủ tôi đi cùng. Tôi có phần ngần ngại vì lúc ấy trong đoàn gồm toàn những tên tuổi gạo cội, chỉ có tôi là còn trẻ, chưa có thành tựu gì đáng kể. 

Nhưng Vũ Thanh đã động viên tôi: “Ai cũng bắt đầu bằng con số 0. Không ai bỗng dưng thành nổi tiếng được. Hơn nữa, nơi này họ chỉ cần tác phẩm hay mà không quan tâm đến tên tuổi của tác giả. Ông còn là nhà báo. Người ta cũng muốn ông viết cho họ một bài về phong trào của họ”. Chỉ khi nghe ông nói vậy, tôi mới yên tâm tham gia. 

Thường một đợt đi như thế có từ 3 đến 5 nhạc sỹ. Các nhạc sỹ được cơ sở đón tiếp rất nồng hậu, ăn uống vô cùng thịnh soạn. Lần đó chúng tôi về một cơ sở cách thị trấn phải đến chục cây số. Đến bữa, có một nhạc sỹ không uống rượu, chỉ thích uống bia, mà là Heineken chứ không dùng loại khác. Ông rất tự nhiên đề đạt ý muốn với người thủ trưởng sở tại. Lập tức được đáp ứng. Người lái xe đã chở cô phục vụ ra thị trấn mới mua được. Cả mâm phải chờ chừng 30 phút mới khai tiệc. 

Sau khi ăn, lúc chỉ còn mấy nhạc sỹ với nhau, Vũ Thanh “góp ý” thẳng thắn với nhạc sỹ kia: “Theo tôi, ta nên có sao dùng nấy. Yêu cầu họ phải có bia ngoại e gây khó cho họ. Ở đây xa xôi hẻo lánh, phải đi xa mới kiếm được. Quá phiền phức”. Vị nhạc sỹ phản ứng: “Ông buồn cười! Đón được chúng ta về là may mắn cho họ, vì sẽ tăng thêm uy tín với mọi người. Vậy cứ để họ có dịp thết đãi ta cho thỏa tấm lòng hiếu khách. Chẳng mấy khi”. Vũ Thanh không dè dặt, nói: “Đó có thể là tâm lý của lãnh đạo. Nhưng việc lại được giao cho nhân viên cụ thể. Giờ đó, chị ta cũng cần phải về gia đình vì đã tối. Để thỏa mãn ta, chị ấy phải vất vả thì có nên chăng?”.

Vũ Thanh là như thế. Ông giản dị, xuề xòa, rất gần gũi và cảm thông với những người lao động nghèo. Tuy có tài và nổi tiếng, lại là Phó ban Âm nhạc, có quyền duyệt tác phẩm, giọng hát trước khi đưa lên sóng nhưng ông đồng hòa, chân tình, luôn khiêm nhường và cả nể. Đặc biệt, ông rất không thích xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. 

Tuy thân thiết với ông nhưng tôi không thể viết được bài báo nào về ông vì ông không đồng ý. Mọi nhạc sỹ có rất nhiều ảnh trên mạng internet. Ông đã không có tấm nào. Sau mỗi đợt đi sáng tác về, ông luôn cho thu thanh tác phẩm của các nhạc sỹ khác mà tự loại bỏ bài của mình. Ông nói với tôi: “Mình ở Đài mà chiếm sóng thì không hay. Hãy dành cho các tác giả khác. Vả lại, nhiều khi bài của họ hay hơn hẳn thì sao lại cố tình đưa bài mình lên?”.

Tên của ông hầu như rất ít được nhắc đến. Nhưng những ca khúc ông để lại thì sống mãi theo thời gian, trở thành những kỷ niệm sâu sắc trong tâm khảm nhiều thế hệ công chúng.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.