Nhớ bậc thầy ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo

Năm nay kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh Cao Xuân Hạo (1930-2007), nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, dịch giả hàng đầu Việt Nam. Tên tuổi ông gắn liền với những công trình nghiên cứu ngữ học vượt khỏi biên giới quốc gia, được đồng nghiệp quốc tế nể trọng. Đặc biệt, khả năng ngoại ngữ của ông được truyền tụng như tấm gương tự học hiếm có...

Những giai thoại về ngoại ngữ của con người đa tài

Một hôm, ban chiếu bóng của Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội mượn được 2 tập phim “Anh em nhà Karamazov” chuyển thể kịch bản từ tác phẩm của văn hào Nga Dostoievski. Đến giờ chiếu mà chưa có bản tiếng Việt làm cho người đọc thuyết minh lúng túng và cả những người có trách nhiệm chiếu bóng cũng chạy đôn chạy đáo.

Chợt có người phát hiện thầy Cao Xuân Hạo cũng đến xem phim. Mừng quá, họ đến nhờ ông cảm phiền thuyết minh giúp. Ông cười bảo mua cho mình mấy điếu thuốc thơm, rồi bước vào phòng máy, vừa nhìn lên màn ảnh vừa dịch đuổi theo nhân vật trong phim một cách khúc chiết. Cả khán phòng ai cũng phục. Thuyết minh xong ông nói, sao lời thoại trong phim kỳ quá, chẳng giống chút nào với lời của nhân vật trong nguyên bản tiểu thuyết của văn hào Dostoievski.

Nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo (1930-2007). Ảnh: TL

Nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo (1930-2007). Ảnh: TL

Một lần khác, Viện sĩ khảo cổ học Gube của Liên Xô sang thăm và nói chuyện tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Người được phân công phiên dịch cho Viện sĩ Gube là một nhà khảo cổ học từng tu nghiệp 7 năm tại Liên Xô, nhưng đã dịch vấp váp, khó khăn trước nhiều thuật ngữ khoa học chuyên ngành. Trước tình thế nan giải ấy, ban lãnh đạo quyết định phải tức tốc tìm mời bằng được Cao Xuân Hạo. Cuộc nói chuyện của Viện sĩ Gube tạm dừng. Và khi Cao Xuân Hạo đến thì mọi việc mới diễn ra suôn sẻ...

Nhiều giai thoại độc đáo như vậy về khả năng tiếng Nga của Cao Xuân Hạo được truyền tụng. Một đồng nghiệp gần gũi về quan điểm ngữ học của ông là Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Quang Hồng, chuyên gia Hán Nôm đầu ngành nhận định: “Anh Hạo là người đa tài, mà tài nào cũng thực sự là tài. Nói đến ngoại ngữ, không phải chỉ lũ chúng tôi, những người từng nhiều năm ăn bánh mì ở Nga về, mà cả người Nga cũng thán phục khả năng nói tiếng Nga lưu loát của anh, ngay cả khi họ chưa biết rằng anh chỉ tự học tiếng Nga qua Đài Tiếng nói Việt Nam”.

Giáo sư Nguyễn Quang Hồng còn cho biết thêm: “Giáo sư V.M. Sonlsev mỗi lần từ Nga sang làm việc với Viện Ngôn ngữ học, đều hầu như chỉ yêu cầu anh Hạo dịch giùm. Và anh luôn được Giáo sư V.M. Sonlcev giúi vào tay mấy bao thuốc lá, thứ mà anh nghiện, để làm quà. Tôi không dám chắc là anh Hạo có nói được tiếng Trung Quốc hay không, nhưng qua những gì mà anh viết có đả động đến tiếng Hán chữ Hán, tôi có thể biết chắc là anh am tường về lịch sử tiếng Hán cũng như về đặc trưng của tiếng Hán và chữ Hán, một vốn tri thức Hán học rất đáng nể mà chưa chắc ai cũng dễ dàng có được”.

Câu chuyện với cô bé người Pháp ở Biên Hòa

Sự thực thì Cao Xuân Hạo giỏi mấy ngoại ngữ? Sinh thời, trong một lần trò chuyện, trước sự “chất vấn” của tôi, bậc thầy đáng kính từ tốn thổ lộ: “Tôi sử dụng thông thạo được tiếng Pháp, Nga, Anh. Tiếng latinh tôi chỉ dùng đọc được sách tương đối dễ như kinh Phúc âm vì đã thuộc nội dung. Tôi cũng đọc được chút ít tiếng Hán, tiếng Đức của những công trình ngôn ngữ học”.

Quá trình học ngoại ngữ của Cao Xuân Hạo cũng khác thường. Thời thơ ấu ông theo bước chân luân lạc của người bố gốc xứ Nghệ tài năng lận đận là Cao Xuân Huy trên nhiều ngả đường đất nước, ở ba miền Trung - Nam - Bắc. Giáo sư Cao Xuân Huy được xem là nhà triết học phương Đông đương đại tiêu biểu nhất Việt Nam, được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Thời trẻ, Cao Xuân Huy hoạt động cách mạng chống Pháp, bị bắt đày lên Lao Bảo. Ra tù, ông cụ vào Biên Hoà dạy học, đến năm 1940 mới đưa gia đình quay ra Huế.

Khi Cao Xuân Hạo lên bốn tuổi, gia đình đang ở Biên Hoà, cạnh nhà một người thợ Pháp có đứa con gái cùng tuổi. Hàng ngày người lớn đi làm hết, ở nhà hai đứa trẻ hay chơi đùa với nhau. Lúc đầu chỉ nói với nhau bằng cử chỉ, nhưng có lẽ nhờ có khiếu nên dần dần cậu bé họ Cao nói tiếng Pháp được như cô bạn gái. Một lần nọ người cha Cao Xuân Huy đi dạy học về tình cờ nghe cậu con trai Cao Xuân Hạo và cô bé hàng xóm nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, sợ hai đứa trẻ biết nên vờ bỏ đi, sau đó gọi con trai lên hỏi: “Mày biết nói như thế từ bao giờ?”. Từ đó ông cụ bắt đầu dạy cho con trai học.

Cũng thời gian này, mẹ cùng bà ngoại, bà vú của Cao Xuân Hạo hay đọc báo “Điện Tín” để theo dõi những cuộc tuyệt thực của ông Tạ Thu Thâu. Họ đọc to từng tiếng một. Cậu bé họ Cao đứng đằng sau lẩm nhẩm đọc theo, dần thuộc mặt chữ quốc ngữ lúc nào không biết.

Dịch giả Cao Xuân Hạo trong một lần đi điền dã. Ảnh: sggp.org.vn.
Dịch giả Cao Xuân Hạo trong một lần đi điền dã. Ảnh: sggp.org.vn.

Việc sớm tiếp cận tiếng Pháp đã giúp ích nhiều cho việc tiếp thu các ngoại ngữ khác về sau của Cao Xuân Hạo. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bậc thầy: “Tôi thấy ngoại ngữ nào cũng khó. Những thứ tiếng càng khác tiếng mẹ đẻ càng khó; chẳng hạn như các thứ tiếng biến hình đối với người Việt. Không bao giờ mình có thể nói và viết được như người bản ngữ. Tôi vốn rất phục những tay điệp viên, như trong phim “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân”.

Vì sao họ hoạt động như vậy mà không bị phát hiện? Về sau tôi mới được biết, những người như thế vốn sinh trưởng ở những vùng song ngữ đã được học một ngoại ngữ cùng một lúc với tiếng mẹ đẻ. Có thể nói  là họ có hai thứ tiếng mẹ đẻ. Theo nhà ngôn ngữ học Vasiliev, từ bốn đến sáu tuổi con người học ngoại ngữ tiếp thu nhanh nhất. Và nếu từ nhỏ được học như thế thì lớn lên có thể học được nhiều ngoại ngữ khác” - ông thổ lộ.

Giáo sư Cao Xuân Hạo cũng cho biết, ở Cộng hoà Czech, người ta chủ trương tất cả các nhà trẻ và lớp mẫu giáo đều thuê người nước ngoài dạy bằng ngoại ngữ, còn tiếng mẹ đẻ thì đã có gia đình, và lúc nào học cũng được.

“Để học giỏi ngoại ngữ còn phải có năng khiếu và lòng yêu thích. Kinh nghiệm cho thấy nên học ngoại ngữ một cách toàn diện, cả về phương diện ngữ âm, phải nhớ bằng mắt, miệng và cả tai nữa, vì như thế sẽ giúp nhớ kỹ hơn. Chẳng hạn, tôi mở Đài Phát thanh Moskva để học thêm tiếng Nga, lúc đầu không hiểu được gì, nhưng càng ngày càng hiểu thêm và quen dần với ngữ điệu. Người Pháp và người Nga không có ai chịu tin rằng tôi chưa từng đi học lâu năm ở Pháp và Nga” - ông cho biết.

Giỏi ngoại ngữ là một chuyện, còn dịch thuật là một chuyện khác. Thời gian đã chứng minh Cao Xuân Hạo là một dịch giả lớn, chuyển ngữ thành công nhiều tác phẩm văn học nước ngoài, chủ yếu là Nga và Pháp, bằng một thứ tiếng Việt sang trọng, dễ hiểu, thoát ly giáo điều rập khuôn ngôn ngữ châu Âu.

Khởi đầu sự nghiệp dịch thuật, Cao Xuân Hạo dịch một tác phẩm của nhà thơ Pushkin (năm 1959), để rồi mấy mươi năm sau ông đã dịch hơn hai mươi ngàn trang sách, tiêu biểu như các bộ truyện: “Con gái viên đại uý”, “Chiến tranh và hoà bình”, “Tội ác và hình phạt”, “Con đường đau khổ”, “Papillon - người tù khổ sai”, “Khải hoàn môn”, “Đèn không hắt bóng”,... Ông được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng về dịch thuật năm 1985.

Các tác phẩm văn học dịch của Cao Xuân Hạo không chỉ tạo được dấu ấn ngay khi ra đời, mà còn đứng vững qua thời gian, luôn thu hút độc giả các thế hệ.
Hoàng Yên

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.