Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu: Dành cả cuộc đời để viết tình ca

Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu (1924 - 2015) là một tên tuổi lớn trong làng nhạc Việt Nam, suốt hơn nửa thế kỷ qua ông đã ghi khắc trong tâm khảm nhiều thế hệ công chúng ấn tượng sâu đậm bởi rất nhiều ca khúc nổi tiếng, sống mãi với thời gian.

Có thể nhắc tới nhiều bài của ông đã trở nên quá quen biết: “Đoàn vệ quốc quân”, “Những ánh sao đêm”, “Tình trong lá thiếp”, “Thật là khó nói”, “Hành khúc ngày và đêm”, “Cuộc đời vẫn đẹp sao”, “Sợi nhớ sợi thương”, “Anh ở đầu sông em cuối sông”, “Ở hai đầu nỗi nhớ”, “Đêm nay anh ở đâu?”...

Nhiều người có thể không thuộc hết nhưng có lẽ đều biết và ưa thích những bài hát trên. Âm nhạc của Phan Huỳnh Điểu có nhiều điểm độc đáo, đặc biệt. Ngoại trừ bài “Đoàn vệ quốc quân” sáng tác từ trước Cách mạng tháng 8 và một bài sáng tác thời kỳ chống Mỹ với bút danh Huy Quang mang tên “Ra tiền tuyến” thì hầu như ông chỉ viết tình ca (bài hát nói đến tình yêu đôi lứa). Đặc điểm nổi bật ở những bài tình ca của ông là luôn gắn tình yêu nam nữ với bối cảnh xã hội, hoàn cảnh đất nước nhưng ca khúc có giai điệu rất mềm mại, lãng mạn chứ không một chút lên gân, khô cứng. 

Dẫu có viết về bất cứ đề tài nào ông cũng viết dưới dạng những bản tình ca và đều có đời sống bền vững trong trái tim nhiều thế hệ công chúng ở mọi lứa tuổi, mọi đối tượng. Bằng chứng là trong các chương trình biểu diễn, nhiều ca sỹ trẻ thích dòng nhạc nhẹ cũng đồng thời hát nhiều ca khúc của Phan Huỳnh Điểu. Ông là nhạc sỹ ở thế hệ cây đa, cây đề nhưng vẫn có nhiều công chúng trẻ tuổi ái mộ. Hưởng thọ 91 tuổi (sinh năm 1924 tại Quảng Nam), nhưng khi đã bước vào tuổi 80, ông vẫn cho ra đời nhiều tình ca hay, vẫn rất “ăng vô” (vào) công chúng. 

Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu (1924 - 2015).
Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu (1924 - 2015).

Ông là một trong những nhạc sỹ đã làm cho “nhạc đỏ” trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn bất cứ thứ nhạc nào khác. Nếu ai có chút kiến thức về âm nhạc sẽ thấy Phan Huỳnh Điểu hầu như chỉ viết bài hát ở điệu thức thứ (mineur) và đa số chỉ dành cho đơn ca. Ngay cả hai bài “Hành khúc ngày và đêm” và “Cuộc đời vẫn đẹp sao” tuy ít nhiều mang tính chất hành khúc nhưng vẫn lộ rõ màu sắc đơn ca hơn là hát tập thể. Một điểm dễ nhận thấy ở người nhạc sỹ xứ Quảng này là rất sở trường với việc phổ thơ. Phần lớn ca khúc của ông đều phổ thơ của người khác. Ông là một trong những nhạc sỹ phổ thơ nhiều và thành công nhất, là bậc thày trong lĩnh vực này.

Cũng như nhiều nhạc sỹ, văn nghệ sỹ khác ở nước ta, Phan Huỳnh Điểu cũng phải làm một cán bộ, công chức chứ không thể chỉ chuyên sáng tác. Nhưng ông đã không cáng đáng một chức vị gì đáng kể mà nói theo cách nói dân giã là cả đời chỉ ngồi bệt xuống đất chứ không có chiếc “ghế” nào. Tuy nhiên, khi Hội Nhạc sỹ Việt Nam mới được thành lập vào năm 1957, ông được bầu làm Ủy viên thường vụ của Ban chấp hành. Nhưng đó là do được bầu và cũng chỉ trong một hai khóa gì đó. Rồi ông xin rút lui vì tự cho rằng mình không hợp với bất cứ chức vụ gì dù chỉ là đoàn thể. Từ đó, ông chỉ chuyên tâm vào sáng tác.

Tôi là thế hệ con, em, học trò của Phan Huỳnh Điểu. Khi ông còn ở Hà Nội, chưa vào sinh sống ở TP. HCM, tôi có nhiều dịp được tiếp xúc với ông. Ông chỉ hào hứng nói chuyện âm nhạc, chuyện sáng tác. Ngoài ra, không có chuyện gì có thể khiến ông say mê, miệt mài. Nói chuyện gì khác chỉ được ít phút rồi thể nào cũng quay trở lại chuyện âm nhạc. Không như nhiều người sáng tác khác thường chỉ thích nói đến tác phẩm của mình mà thờ ơ với tác phẩm của người khác, Phan Huỳnh Điểu đã khiến tôi rất quý trọng vì ông luôn lắng nghe tác phẩm của bất cứ ai khi muốn ông nghe, góp ý. 

Khi tôi vừa tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ngành Văn học, đang tập toạng sáng tác âm nhạc, đã tìm đến làm quen với ông và được ông tiếp đón ngay, không một chút kênh kiệu, khoảng cách, mặc dù lúc đó ông đã rất nổi tiếng. Tôi xin được ông chỉ bảo cho những bài hát mình mới tập viết. Ông chăm chú nghe, thường yêu cầu tôi hát đi hát lại nhiều lần. Có bài ông góp, gợi ý cách sửa ngay, có bài ông nói cứ để đó, lần sau đến, sẽ góp, có nghĩa ông cần thời gian suy nghĩ, nghiền ngẫm. 

Những năm tháng đó, con người ta vô tư, trong sáng, ít tính toán như bây giờ. Nay nghĩ lại, tôi tự thấy rất ngượng vì luôn làm phiền ông mà không có bất cứ hình thức gì đền đáp lại ngoài việc năng lui tới chơi với ông. Mà cũng chỉ là thăm “suông”. Vậy mà tôi cứ “hồn nhiên như cô Tiên”, thi thoảng đến làm phiền ông cả buổi. Có lần lại còn được ông giữ lại, mời ăn cơm vì trao đổi bài vở đến quá trưa. 

Ai mà tiếp xúc với ông thì sẽ không thể quên đôi mắt to, đen, luôn ướt rất có hồn của ông. Hồi đó, tôi chưa có vợ, cứ thầm nghĩ trong lòng không biết ông có con gái không. Nếu có, chắc phải giống cha. Và nếu giống ở đôi mắt thì sẽ tuyệt đẹp. Nhưng tôi không dám hỏi ông. Vì toàn đến chơi với ông vào giờ hành chính nên ít gặp người khác ở nhà. Rồi thời gian trôi đi, sau đó tôi chẳng nghĩ đến chuyện “hão huyền” đó nữa.

Vợ chồng nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu.
Vợ chồng nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu.

Nhạc của Phan Huỳnh Điểu làm sao thì con người ông làm vậy. Ông đôn hậu, hiền hòa, điệu đà, dường như không giận ai bao giờ. Ấy là tôi nghĩ một cách chủ quan, đơn giản như thế. Cũng bởi tôi biết rõ từng có người khá đố kỵ, không ưa ông, hạ thấp giá trị tác phẩm của ông. Nhưng ông vẫn nghĩ về họ tốt, vẫn dành những lời trân trọng khi nói về họ. Tôi tưởng ông không biết người kia kỳ thị mình bèn hỏi một người khác cũng rất thân với ông. Người này nói với tôi: “Phan Huỳnh Điểu là thế. Ông ấy không bao giờ chấp nê ai”. Quả là một bài học quý cho tôi về đối nhân xử thế, về sự độ lượng, nhân ái trong việc nhìn nhận con người. 

Tôi nhớ mãi một lần cách đây đã gần 40 năm, tôi bị một nhạc sỹ cũng rất nổi tiếng cùng thế hệ với Phan Huỳnh Điểu chèn ép khi cùng sáng tác bài hát cho một tỉnh ở miền Tây Nam bộ. Vị nhạc sỹ này thậm chí còn yêu cầu địa phương nếu đã mời ông thì chỉ một mình ông, không mời thêm bất cứ ai, huống hồ một người còn trẻ (khi ấy), chưa có bề dày tác phẩm như tôi. 

Biết chuyện này, khi gặp Phan Huỳnh Điểu lúc này đã về sống ở TP. HCM, tôi kể với ông thì được ông động viên: “Không việc gì phải buồn. Đó là lẽ đời dễ hiểu. Em hãy dốc sức vào viết bài cho tốt. Đó chính là động cơ để em cay cú mà sáng tác hay. Địa phương người ta sẽ thấy thôi. Nhất là công chúng, cứ hay là họ thích, đâu có để ý bài của ai, thày hay trò, có nổi tiếng hay chưa”. 

Và cuộc sáng tác lần ấy, tôi đã thành công. Địa phương này đã chấp nhận bài của tôi chứ không phải bài của nhạc sỹ nổi tiếng kia. Sau lần đó, ra Hà Nội, tôi được kết nạp vào Hội Nhạc sỹ Việt Nam cũng từ “phi vụ” thành công này. Tôi mãi mãi biết ơn Phan Huỳnh Điểu đã có lời động viên đúng lúc, như là cho tôi uống một liều thuốc bổ tinh thần, đã khích lệ tôi vượt qua sự buồn phiền dễ có ở một người trẻ chưa có nhiều bản lĩnh trong cuộc sống.

Và giờ đây, Phan Huỳnh Điểu đã rời khỏi thế gian. Tôi quá tiếc nuối và hối hận vì trước khi ông mất ít ngày, tôi có mặt ở Sài Gòn, nhưng vì bận nhiều việc mà đã không đến thăm ông. Lúc đó, ông đã trên 90 tuổi. Nhưng đâu có nghĩ ông lại ra đi chỉ vài tuần sau đó. Chẳng cứ gì tôi vốn mang ơn ông từng đã chỉ bảo việc sáng tác trong quá khứ mà bất cứ công chúng nào yêu thích âm nhạc đều dễ thấy thật khó có sự thay thế một giọng điệu ca khúc sâu lắng, cuốn hút, mượt mà và cực kỳ truyền cảm như ông.

Phan Huỳnh Điểu mất đi, để lại cho đời sống âm nhạc nước ta một khoảng trống quá lớn, không dễ san lấp. Hôm nay, trong sự ồn ã, thậm chí là bát nháo của rất nhiều loại nhạc, loại tình ca lâm ly, sướt mướt rẻ tiền, người ta vẫn gọi là “não tình” mà không ít bạn trẻ ngộ nhận đó là hiện đại, là sành điệu đang có nhan nhản ở khắp nơi, mới càng thấy quý, thấy nhớ thứ “đặc sản” tình ca của Phan Huỳnh Điểu. Ông quả là rất xứng đáng với Giải thưởng Hồ Chí Minh được Nhà nước trao tặng. Nhưng cao quý hơn là ông đã và sẽ sống mãi trong tâm khảm công chúng bởi rất nhiều ca khúc luôn sáng lung linh như những viên ngọc, không lớp bụi thời gian nào có thể phủ mờ.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.