Nhạc sĩ Vũ Trọng Hối trở thành nhạc sĩ nổi tiếng vì “tự ái”

Tất nhiên, không phải ai có lòng tự ái cũng thành những tài năng và không phải cứ có cảm xúc đặc biệt là cho ra được tác phẩm. Nhưng câu chuyện của người nhạc sỹ tài danh trong bài viết này đã đúng như vậy.

Đó là Vũ Trọng Hối (1926-1985) – một Đại tá quân đội, nhạc sỹ rất đỗi quen biết của lực lượng vũ trang. Tên ông có thể khiến nhiều người nghe chưa quen nhưng những bài hát của ông thì cực kỳ nổi tiếng, không công chúng yêu âm nhạc nào lại không biết, đặc biệt là hai ca khúc bất hủ: “Đường tôi đi dài theo đất nước”  (“Đời giao liên bước tôi đi dài theo đất nước/ Đường tôi đi núi chênh vênh có mây bay dưới chân dăng thành…”) và “Bước chân trên dải Trường Sơn” (“Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn/ Đá mòn mà đôi gót không mòn…”).

Mùa xuân năm 1979, chúng ta tiến hành cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tại biên giới phía Bắc. Trong rất nhiều ca khúc sục sôi ý chí quyết chiến, quyết thắng khi ấy, có một bài hát mang âm điệu trầm hùng thật đĩnh đạc với lời ca sâu sắc khiến ai nghe cũng thấy bốc cao ngùn ngụt ngọn lửa yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm.

Đó là bài “Lời tạm biệt lúc lên đường” của Vũ Trọng Hối (“Ngày ra đi hướng biên cương/ Gió bấc tràn về lòng anh lạnh buốt/ Nòng súng thép dán câu thơ/ Ý thơ tuyệt hay là thơ Lý Thường Kiệt…”). Năm 1980, khi ấy, với tư cách phóng viên nghệ thuật của một tờ báo, tôi đã đăng bài hát này kèm đôi lời bình vào số kỷ niệm 35 năm ngày Quốc khánh nước ta. Lúc này, tôi chưa một lần được gặp Vũ Trọng Hối, chỉ biết ông qua hai ca khúc nổi tiếng về Trường Sơn đã có dịp nhắc ở trên.

Tôi đang định tìm gặp ông để tặng báo. Chưa kịp làm việc này thì một buổi chiều đang ở nhà, có một người khách lạ đến tìm gặp tôi. Ông chừng ngoài 50 tuổi, mặc đồ bộ đội đã cũ, trông vẻ người có phần cũ kỹ, dáng điệu chậm chạp như một nông dân nhưng gương mặt thì sáng sủa với đôi mắt tinh anh, toát lên vẻ thông minh. Tôi vừa mở cửa để mời khách vào nhà thì vị khách lạ cất lời:

- Tôi là Vũ Trọng Hối vừa được anh đăng cho bài hát. Tôi đến để cảm ơn anh và luôn thể xin anh tờ báo.

Tôi lấy làm rất thú vị, bởi không ngờ đó là người nhạc sỹ tài ba, có những bài hát rất nổi tiếng mà tôi vô cùng ưa thích. Tôi bày tỏ sự ái ngại vì chưa kịp đến gặp ông – mới phải – thì ông đã lại tìm tôi trước. Như đọc được chút băn khoăn của tôi, ông cho biết nhà ông ở khu tập thể Quân y viện 103 trong Hà Đông, ra cơ quan phải đi qua nhà tôi (ở Tập thể Fafilm, Ngã Tư Sở)  nên ghé vào cho tiện chứ tôi mà tìm ông thì khó, vì nhà ông ở xa, còn cơ quan ngoài Hà Nội thì chỉ thi thoảng mới ra.

Vũ Trọng Hối đã để lại trong tôi ấn tượng ban đầu thật tốt đẹp với phong cách hết sức bình dị, tình cảm chân thành và sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa nghệ thuật chứ không chỉ âm nhạc. Ông điềm đạm, đôn hậu, không ồn ào, “chém gió” như cái từ quen thuộc bây giờ người ta vẫn chỉ những người ba hoa chích chòe, ồn ào, trống rỗng. Đặc biệt ông rất khiêm nhường khi nói với tôi :

- Trong bài viết, anh có khen bài hát của tôi là một trong những bài hành khúc quân đội hay nhất từ trước đến nay và là bài hay nhất trong lô bài về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới. Tôi tự thấy chưa được như thế mà mới chỉ nói lên được phần nào tâm tư, tình cảm của lớp trẻ hôm nay lên đường bảo vệ tổ quốc.

Quả là Vũ Trọng Hối đã khác hẳn không ít tác giả có tật “văn mình, vợ người”, chỉ thấy tác phẩm của mình là có giá trị mà xem thường của người khác. Từ sự cảm mến, nể trọng phút đầu đó mà tôi với ông đã trở nên bạn vong niên. Tôi coi ông như người anh cả, người thầy trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc và mạnh dạn muốn được ông truyền cho một số thủ pháp, kỹ năng sáng tác. Ông vui vẻ nhận lời và chủ động lên lịch ngay. Tuy nhiên, ông nói:

- Thực tình, tuy có được đi tu nghiệp thêm ở nhạc viện Alma-Ata (Azerbaijan) nhưng tôi tự thấy chưa thấm tháp gì. Sáng tác, nhất lại là sáng tác ca khúc, cần những yếu tố khác hơn cả sự học kỹ thuật, lý thuyết tại nhạc viện. Đó là năng khiếu, nhạc cảm, là vốn liếng về dân ca, văn học, có khả năng làm thơ, có thẩm âm tốt. Những thứ này San đã có cả. Cứ viết nhiều sẽ lên tay và sẽ hay. Lúc tôi mới sáng tác những bài đầu tiên, cũng chưa có chút vốn liếng gì, nếu không nói là còn mù nhạc.

Và ông kể cho tôi nghe nguyên do ông bước vào con đường sáng tác âm nhạc để cuối cùng gặt hái được những thành công lớn như chúng ta đã thấy.

…Vũ Trọng Hối sinh ngày 15-6-/1926 tại một ngôi nhà lụp xụp, tồi tàn ở xóm thợ phố Hàng Kênh (Hải Phòng). Cha mẹ ông trước đó quê Nam Định, rất nghèo khó nên đã dạt về Hải Phòng với hy vọng sẽ có cơ hội kiếm sống dễ dàng hơn. Ông kể rằng lúc 4-5 tuổi đã rất thích nghe những người xẩm mù đi lang thang hát nhiều làn điệu dân ca. Và ông đã thuộc nằm lòng từ ngày ấy.

Do nhà quá nghèo nên cậu bé Hối chỉ học hết lớp 3 rồi phải bỏ học đi làm đủ mọi việc để kiếm sống, rồi trở thành người thợ. Từ thợ mà chàng thanh niên này đến với cách mạng. Chàng gia nhập đội quân Hùm xám của tướng Nguyễn Bình (Đội quân này lúc đó rất nổi tiếng, là nỗi kinh hoàng của thực dân Pháp).

Thời kỳ này, Vũ Trọng Hối đã thích tự mình nghĩ ra những giai điệu có lời ca. Chàng lính trẻ dạy cho anh em hát theo. Một số bài được họ ưa thích, cổ vũ. Thế là chàng lại càng hào hứng lao vào sáng tác. Nhưng không biết chút nhạc lý gì nên không thể ghi ra giấy những bài mình đã sáng tác. Chàng bèn quyết định sẽ tìm đến các quán bar, gặp những nhạc công với ý định sẽ nhờ họ hướng dẫn cách ghi âm.

Nhìn người lính trẻ có vẻ quê mùa, lại tập toạng sáng tác, họ đã cười nhạo, tỏ vẻ coi khinh Vũ Trọng Hối. Cay cú và tức giận, chàng lính trẻ yêu âm nhạc nuôi chí “phục thù” với ý nghĩ mình phải giỏi nhạc, phải viết nên nhiều bài hát để mọi người biết. Ông nói rằng lòng tự ái còn được nhân thêm khi ngay trong đơn vị, bên cạnh nhiều người rất khuyến khích cổ vũ ông sáng tác cũng có một số người dè bỉu, cho rằng ông “hâm”, mơ hão huyền.

Thế rồi, ông tìm kiếm tài liệu, tự mày mò học nhạc lý và miệt mài tập sáng tác. Vốn dĩ là một người lính rất có ý thức tổ chức kỷ luật, lại sống tốt với mọi người nên Vũ Trọng Hối được đồng đội và cấp trên quý mến. Thấy rõ năng khiếu của ông, đồng chí Lê Quang Hòa – một vị chỉ huy cấp trên – đã cho ông lên Việt Bắc dự lớp bồi dưỡng âm nhạc do nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát – người anh cả của làng nhạc Việt Nam phụ trách. Có thể nói, từ đó, Vũ Trọng Hối chính thức bước vào hoạt động âm nhạc.

Bước chân những người chiến sỹ trên dải Trường Sơn (Ảnh tư liệu).
Bước chân những người chiến sỹ trên dải Trường Sơn (Ảnh tư liệu).

Sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954), như nhiều nhạc sỹ quân đội khác, Vũ Trọng Hối nhanh chóng bắt nhập với không khí dựng xây đất nước bằng những ca khúc in đậm dấu ấn sáng tạo riêng: “Ngọn cờ hồng”, “Hát mừng đất nước”. Nhưng ông nở rộ và chói sáng tài năng nhất phải là những năm tháng chống Mỹ cứu nước tại cung đường Trường Sơn. Trước ngày lên đường vào đây, ông đã có bài hát được nhiều người tán thưởng là “Mùa chiến công nở rộ khắp hai miền” nhưng tự thấy chưa “đã” nên quyết tâm sẽ có những bài hay hơn, sâu sắc hơn trong đợt đi thực tế này. Ông kể:

- Ngày 18-12-1965, giữa một ngày nhiệt độ xuống tới 7-8 độ, rét như cắt ruột, tôi khoác ba-lô lên đường vào Trường Sơn lúc 40 tuổi, để lại vợ và hai con với nung nấu mình sẽ viết nên được những bài ca xứng đáng với con đường bất tử đầy kỳ tích này.

Vũ Trọng Hối nói ông chỉ biết nỗ lực hết mình chứ không dám chắc cả hai bài đều được công chúng, đặc biệt là các chiến sỹ tán thưởng đến như vậy. Tôi tò mò hỏi ông có kỷ niệm gì đặc biệt không mà có thể viết nên được bài “Đường tôi đi dài theo đất nước” tha thiết, trữ tình, rất lãng mạn, “ướt át” đến như vậy mặc dù nói về cuộc chiến tranh đang cực kỳ khốc liệt khi ấy. Lúc đầu, ông chỉ cười mà có vẻ không dễ kể. Nhưng rồi ông cũng bộc bạch:

- Lần ấy, vào đến Trường Sơn, tôi có quen biết một nữ giao liên, tuổi chỉ hơn 20, lúc đầu gọi tôi bằng “chú” (cô kém tôi gần 20 tuổi). Một số người trêu cô: “Chú nhạc sỹ là sao? Chỉ có thể gọi nhạc sỹ chứ không thể chú, bác hay anh được”. Thế là về sau, cô thay đổi cách xưng hô, chỉ gọi tôi là “nhạc sỹ” (“Thưa nhạc sỹ”, “nhạc sỹ ơi”) mà không có từ “chú”. Và xưng là “em” thay vì “cháu” như trước.

Chuyện chỉ có vậy mà vị nhạc sỹ trước mặt tôi lúc ấy đã gần 60 tuổi vẫn có chút ngượng nghịu khi kể lại kỷ niệm gần 20 năm về trước.

- Chỉ có vậy thôi ư? Chỉ là quen biết như thế rồi đến khi anh trở ra Bắc thì “tạm biệt” sao?

- Chỉ có vậy.

- Có lẽ vì cô giao liên thay đổi cách xưng hô mà nhạc sỹ thấy xao xuyến để viết nên một tuyệt phẩm như thế?

- Và sau đó tôi đã nhân đà cảm xúc viết luôn bài thứ hai là “Bước chân trên dải Trường Sơn”. Viết một mạch từ đầu chí cuối rồi đưa anh Tào Mạt sửa sang ca từ và làm thêm lời hai.

Từ sự kích thích của lòng tự ái, rồi chút xúc cảm rất đẹp trước cô gái giao liên mà Vũ Trọng Hối trở thành nhạc sỹ với hai ca khúc để đời. Tất nhiên, sâu xa phải là sức thuyết phục, thôi thúc của một hiện thực đầy chất anh hùng ca của dân tộc và sự nỗ lực không mệt mỏi của người nhạc sỹ giàu bản lĩnh sáng tạo.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...