Nhạc sĩ Trọng Loan và những dấu ấn âm nhạc

Nhạc sĩ Trọng Loan (1923-2010) là một tên tuổi lớn trong nền âm nhạc Việt Nam. Ông là một trong những cánh chim đầu đàn của đội ngũ các nhạc sĩ Quân đội ngay từ những ngày đầu sau khi ta giành được chính quyền cách mạng về tay nhân dân. Cả một đời sáng tác, ông để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hàng trăm ca khúc, nhiều bài được phổ biến rộng rãi. Ông đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học - nghệ thuật năm 2001.

Nhạc sĩ Trọng Loan sinh ra tại Yên Bái, nhưng quê gốc lại ở làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội). Ông trưởng thành và tham gia cách mạng tại thành phố Vinh - Bến Thủy, tỉnh Nghệ An những năm 1940 thế kỷ trước. Sau khi cùng các đội viên thanh niên cứu quốc Phan Đình Phùng khởi nghĩa cướp chính quyền về tay nhân dân, ông nhập ngũ vào bộ đội và trở thành anh Vệ quốc quân khi mới gần 22 tuổi.

Cũng từ đó, ông bắt đầu sáng tác âm nhạc và trở thành một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Âm nhạc của nhạc sĩ Trọng Loan luôn gắn với cuộc sống chiến đấu của người chiến sĩ, theo sát các đoàn quân, các chiến dịch và các trận chiến đấu trên khắp các chiến trường. Vì vậy các tác phẩm của nhạc sĩ Trọng Loan luôn có tính chân thực, sống động và được phổ biến rộng rãi trong quần chúng.

nhạc sĩ trọng loan.jpg -0
Nhạc sĩ Trọng Loan.

Nhạc sĩ Trọng Loan bắt đầu bước vào con đường sáng tác âm nhạc với tác phẩm đầu tay: "Bài ca thanh niên xung phong Phan Đình Phùng" khi còn là một thanh niên trẻ, tham gia hoạt động trong phong trào cứu quốc chống thực dân Pháp tại thành phố Vinh. Ông đã sáng tác bài hát này để khích lệ tinh thần chiến đấu của các đội viên, cũng như khích lệ tinh thần của đồng bào ta trên toàn quốc đứng lên chống lại thực dân Pháp. Sau bài hát này, ông nhập ngũ và trở thành một nhạc sĩ quân đội cho đến tận cuối đời.

Một dấu ấn rất quan trọng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đó là giai đoạn nhạc sĩ Trọng Loan tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn giúp giải phóng quân Trung Quốc đánh đuổi quân đội của Tưởng Giới Thạch trên khắp dải núi Hoa Nam giáp biên giới phía Bắc của nước ta, vào năm 1949. Trực tiếp tham gia đoàn quân, vừa chiến đấu, vừa kịp thời sáng tác các bài hát mới để động viên khí thế chiến đấu của chiến sĩ ta, trong một thời gian ngắn, từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1949, nhạc sĩ Trọng Loan đã viết liên tiếp được 10 ca khúc rất thời sự, kịp thời và phổ biến ngay để chiến sĩ ta hát ngay trên đường hành quân, ngay tại chiến hào.

Có thể nói đây là những ca khúc có cảm xúc chân thực, thành công cả về mặt nghệ thuật và ý nghĩa chính trị, tư tưởng. Nó cũng đánh dấu một bước trưởng thành trong nhận thức tư tưởng cũng như sự định hình về bút pháp của nhạc sĩ Trọng Loan về sau này, đó là: nhanh, thời sự, ngắn gọn, tính chiến đấu cao. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua một số bài hát như: "Bài ca viễn chinh", "Chiều biêncương", "Có ai qua biên thùy", "Em bé tha phương", "Chia tay quân bạn", "Ngày về"...

Được biết, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch, sau khi nghe nhạc sĩ Trọng Loan trình bày cả 10 ca khúc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành lời khen ngợi cho người nhạc sĩ trẻ ngày ấy. Ngoài ra, trong giai đoạn này, nhạc sĩ Trọng Loan còn có nhiều bài hát rất được phổ biến trong các địa phương vùng Khu IV và trong các đơn vị quân đội thời đó, như bài hát: "Em nọ yêu anh", "Kể chuyện anh Hồng tập bò", "Cha cu giải nghệ", "Vui thao trường", "Đón chào anh Mô"...

Thời kỳ chống Mỹ cứu nước những năm 60-70 của thế kỷ trước, là giai đoạn mà nhạc sĩ Trọng Loan cho thấy sự "chín" về nghề sau hơn 20 năm cầm bút sáng tác. Ông đi nhiều nơi, đến nhiều đơn vị, theo các đoàn quân đến tận chiến trường nơi vẫn còn vang tiếng súng. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rõ sự "bùng nổ" trong tư duy và sáng tác của Trọng Loan. Những ca khúc ra đời nhanh, kịp thời theo các sự kiện "nóng bỏng" trên chiến trường. Ví dụ bài hát "Phải đánh lũ giặc Mỹ", "Gửi Cồn Cỏ anh hùng", "Tàu tôi đi chiến đấu", "Hát trên Tây Nguyên giải phóng", "Hát trên sông Hương của ta", "Quân giải phóng đã về đây"...

Ông cũng viết rất đa dạng, từ ca ngợi chiến công "Người Châu Yên em bắn máy bay", "Bùi Ngọc Dương bài ca chiến thắng", "Hát về nữ anh hùng Lê Thị Hồng Gấm", "Đường 9 hát chiến công", "Chiến thắng bản Đông", "Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng", "Tin vui thắng trận 3.000 máy bay", "Hà Nội vươn cao chiến thắng tuyệt vời"...), ca ngợi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam "Đi theo ánh sáng soi đường", "Chào miền Nam chào chính quyền cách mạng", đến kêu gọi binh sĩ Ngụy quân Ngụy quyền phản chiến về với nhân dân "Khúc ca ân tình", "Nhắn người trai Việt", "Vùng lên anh em binh sĩ", "Quét sạch chúng nó đi", "Đi lên cùng chống Mỹ cứu nước", "Mau quay về chung sức chung tay"...

Hay viết về các quân binh chủng, các ngành nghề, các địa phương: "Kìa ánh dương lên" viết về các chiến sĩ biên phòng miền Tây, "Anh nuôi đơn vị tôi", "Anh nuôi ta đó" viết về chiến sĩ hậu cần, "Mừng voi chiến thắng" viết về bộ đội pháo binh, "Niềm vui bên tay lái", "Xe lại lên đường" viết về bộ đội lái xe, "Yêu những đường dây" viết về bộ đội thông tin liên lạc, "Lời ca gửi tặng Không quân nhân dân anh hùng" viết về bộ đội không quân, "Trăng sáng trên rừng quế", viết về thiếu niên, nhi đồng “Chú giải phóng quân ơi", "Là những măng non", "Vinh quang Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh"...

Và, không thể không nói tới một tác phẩm rất nổi tiếng của nhạc sĩ Trọng Loan trong thời kỳ này, đó là bài hát "Lời ca dâng Bác" ông viết để mừng thọ Bác Hồ nhân ngày 19/5/1968. Bài hát do NSND Thanh Huyền thể hiện đã được phát trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi, được đông đảo khán thính giả yêu mến.

nhạc sĩ trọng loan thăm một đơn vị bộ đội (năm 1999).jpg -0
Nhạc sĩ Trọng Loan thăm một đơn vị bộ đội (năm 1999).

Sau Hiệp định Paris (năm 1973), Mỹ phải ngừng tiến hành chiến tranh phá hoại, rút quân khỏi miền Nam. Đất nước đã có nhiều điều kiện để kiến thiết dựng xây chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đồng thời tiếp tục đẩy nhanh sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Lúc này, nhạc sĩ Trọng Loan cũng đã có sự chuyển mình trong tư duy sáng tạo, cùng hòa nhịp trong dòng chảy âm nhạc mới của hai miền Nam - Bắc, từ hành khúc chiến đấu bắt đầu chuyển sang các thể loại nhạc mới (nhạc nhẹ, ca khúc trữ tình), từ chủ đề chính trị sang các khía cạnh đời thường của cuộc sống, ví dụ bài hát: "Từ mùa xuân nay ta hát chung bài ca", "Em sẽ lớn lên dưới những mái trường", "Hai nửa đồi sim", "Biển và em"...

Nhưng, là một nhạc sĩ quân đội, nhạc sĩ Trọng Loan vẫn luôn luôn ý thức được trách nhiệm của một người lính đối với Tổ quốc, đối với lực lượng. Vì vậy, bên cạnh những sáng tác theo phong cách nhạc mới, nhạc sĩ Trọng Loan vẫn luôn lấy chủ đề người lính để làm tiêu chí trong mạch tư duy sáng tác của mình. Và những tác phẩm về người lính, về cuộc chiến đấu mới vẫn cất vang lên nhưng với một hơi thở mới, vẫn hùng tráng, hào sảng nhưng thiết tha hơn, sâu lắng hơn, như: "Chúng con lên đường hình Tổ quốc trong tim", "Nếu em tới thăm đảo", "Anh lại ra đi mở thêm những con đường", "Gặp nhau giữa điệp trùng biên cương", "Trăng", "Nhớ về một dòng sông"...

Ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ kính yêu cũng là mảng đề tài lớn và thành công trong sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ. Có thể kể những bài hát về Đảng như: "Tiến theo cờ Đảng" (1960), "Dâng lên Đảng niềm tin" (1976), "Tình Đảng ngời sáng trong tim anh" (1979)... Những bài hát ca ngợi Bác Hồ như: "Muôn năm Hồ Chí Minh" (1950), "Lời ca dâng Bác" (1968), "Nhớ Bác Hồ" (1971), "Tháng Năm hát dâng Người" (1982), "Hương thơm vườn Bác" (1987), "Trên đảo thép này Bác đứng uy nghi" (1987), "Cảng Nhà Bè đêm trăng nhớ Bác" (1991), "Hồ Chí Minh người gọi ta tiến bước tiên phong" (2000)...

Có thể nói, cả một đời đi theo cách mạng và sáng tác âm nhạc, nhạc sĩ Trọng Loan đã tận tâm, tận hiến và để lại cho đời một kho tàng âm nhạc khá đồ sộ và phong phú, đa dạng, nhiều màu vẻ. Các tác phẩm của ông luôn bám sát thực tiễn chiến đấu, lao động, sản xuất của quân và dân ta với phong cách âm nhạc giản dị nhưng tinh tế, khúc triết, giai điệu mượt mà, uyển chuyển, chủ yếu dựa trên chất liệu dân ca vùng, miền nên rất gần gụi, dễ hát, dễ thuộc. Có lẽ vì vậy, các tác phẩm âm nhạc của nhạc sĩ Trọng Loan được đông đảo công chúng yêu mến, đón đợi. Ông đã sống trọn vẹn với âm nhạc và ra đi thanh thản cùng với những bài ca đã đi vào năm tháng của mình. Những bài ca đã trở thành một phần lịch sử của dân tộc và mãi trường tồn trong dòng chảy của nền âm nhạc Việt Nam.

Lưu Bích

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.