Nhạc sĩ tài hoa và những bóng hồng

Vào thập niên 50 của thế kỷ trước, tầng lớp thanh niên ở Hà Nội và một số đô thị ở miền Bắc có lẽ không ai không biết hai bài hát rất nổi tiếng là “Mơ hoa” và “Ngày về” của Hoàng Giác. Cả hai bài đều cùng một phong cách: Nhẹ nhàng, điệu đà, rất ướt át, lãng mạn, phô diễn cảm giác nhớ thương bồi hồi, xao xuyến rất phù hợp với những trái tim đa cảm đang rạo rực yêu đương.

Trường hợp của nhạc sĩ Hoàng Giác có phần giống với nhạc sĩ Đoàn Chuẩn: Số lượng tác phẩm không nhiều và chủ yếu là tình ca nhưng để lại được những thiện cảm đặc biệt cho người nghe thuộc tầng lớp tiểu tư sản thị dân khi đó.

Nhạc sĩ Hoàng Giác (1924 - 2017) quê ở làng Chèm, thuộc quận Bắc Từ Liêm ngày nay. Thân phụ ông là một người chơi đàn bầu khá hay nhưng lại theo đuổi nghiệp võ. Ông cụ từng là Chủ tịch Liên đoàn quyền anh ở Bắc Kỳ một thời.

Hoàng Giác mê âm nhạc ngay từ khi còn ngồi ghế trường phổ thông. Ông học trường Bưởi (sau này là trường Chu Văn An), bắt đầu sáng tác từ khá sớm sau khi tự trang bị được chút kiến thức về âm nhạc. Bài “Mơ hoa” là sáng tác đầu tay của ông đã lập tức nổi tiếng. Đây là một trường hợp hy hữu.

Cố nhạc sĩ Hoàng Giác thời trẻ.
Cố nhạc sĩ Hoàng Giác thời trẻ.

Thường thì kể cả những nhạc sỹ tài ba, tên tuổi lừng lẫy cũng khó nổi tiếng ngay từ sáng tác đầu tiên. Hoàng Giác viết bài này năm 1945, khi vừa học xong phổ thông. Có lẽ mối tình đầu thầm kín nhưng khá mãnh liệt của chàng trai 21 tuổi đã khiến ông cho ra đời một ca khúc để đời.

Số là khi đó, bên hàng xóm nhà ông tại phố Ngọc Hà (Hà Nội) có một bà cụ bị ốm. Bà được cô cháu nội 17 tuổi từ Hà Đông ra chăm sóc. Cô tên là Lê Thục Đoan có vẻ đẹp chim sa, cá lặn với làn da trắng, mỏng mịn như trứng gà bóc, mái tóc đen, dày, mượt và một dáng vóc thon gọn, nhẹ nhàng, uyển chuyển khiến ông say mê ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Chàng trai đàn ngọt, hát hay cũng lọt được vào mắt xanh của nàng. Đôi trai tài, gái sắc nhanh chóng trở nên thân thiết, quyến luyến. Nhưng Hoàng Giác không dám tỏ tình. Cảm xúc dâng trào trong tim, chàng bèn nghĩ tới việc sẽ sáng tác một bài hát để tặng nàng. Chàng nhớ đến những cô gái làng Ngọc Hà vẫn gánh hoa ra chợ bán mỗi sáng sớm khi mình đi học và tưởng tượng cô nàng của trái tim mình cũng như vậy.

Thế là những nốt nhạc đầu tiên tuôn ra cùng những lời lẽ thật nhẹ nhàng, lãng mạn với cảm xúc bồi hồi, xao xuyến: “Cô hái hoa ơi! Hãy dừng bước chân. Trên đường thẳm xa. Tôi nhắn cô em đôi lời…”. Viết xong, Hoàng Giác hăm hở định hẹn gặp Thục Đoan để trao tặng kỷ vật tâm hồn. Nhưng bà nội đã qua cơn hiểm nghèo nên cô nàng trở vào Hà Đông, không kịp để lại cho chàng nghệ sỹ đa tình một lời tạm biệt. Thế là từ đó, “cạn dòng lá thắm, tuyệt đường chim xanh”.

Hoàng Giác hẫng hụt như người mất hồn vì không biết tìm Thục Đoan ở đâu. Nhà cô ở Hà Đông thì chàng không biết, mà ngày ấy không mấy nhà có điện thoại như bây giờ. Sau đó, chàng nghe tin cô đã đi lấy chồng. Thế là chấm hết một mối tình chưa thành sự thật, mới chỉ là những xúc cảm ban đầu nhưng cũng đủ mãnh liệt để nhạc sỹ cho ra một tình ca để đời.

Hoàng Giác cho biết, ca khúc này có tới 20 bản thu thanh với phần phối khí khác nhau do nhiều ca sỹ nổi tiếng hát. Mỗi người một sắc thái, ai cũng diễn tả được đầy đủ thần thái của tác phẩm. Một chuyện thú vị và cũng hiếm có trên đời. Đó là chàng nhạc sỹ trẻ những tưởng không bao giờ gặp lại được người tình đầu đời trong mộng thì sau mấy năm, biết tin chàng đã lấy vợ, cô Thục Đoan đã chủ động tìm đến thăm hai vợ chồng chàng và hằng năm, cứ đến ngày sinh nhật hai người là Thục Đoan lại mang hoa đến tặng.

Vợ chồng nhạc sỹ cũng làm việc đó đối với Thục Đoan. Họ trở thành những người bạn thân thiết, trong sáng. Việc này được duy trì suốt mấy chục năm. Các con của Hoàng Giác gọi bà Đoan là mẹ chứ không gọi là “cô”. Hai người phụ nữ cũng gọi tên nhau và xưng tên mình chứ không “chị, em”.

Những ngày cuối đời của Hoàng Giác, bà Đoan đã ở bên. Ngay tối hôm trước khi ông vĩnh viễn ra đi - tức ngày 13/9/2017 -  bà đã tới thăm ông và ở bên giường bệnh, nắm tay ông, trò chuyện đến khuya mới ra về. Quả là không dễ thấy một tình bạn đẹp, bền lâu và thánh thiện như vậy.

Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ (19/12/1946), Hoàng Giác tham gia Đoàn Tuyên truyền xung phong. Một lần từ chiến khu Việt Bắc về thăm nhà, ông viết bài “Ngày về ”. Bài này sau đó trở nên rất nổi tiếng chẳng kém gì “Mơ hoa”. Bài hát diễn tả tâm trạng náo nức, dạt dào cảm xúc của người con xa quê có dịp trở về nơi xưa, chốn cũ với giai điệu ngọt ngào, xao xuyến, tha thiết, bồi hồi.

Vợ chồng nhạc sĩ Hoàng Giác.
Vợ chồng nhạc sĩ Hoàng Giác.

Mặc dù biết rõ người trong mộng năm trước đã đi lấy chồng nhưng trong tâm khảm, Hoàng Giác vẫn còn lưu giữ hình ảnh nàng và kỷ niệm đầu đời vẫn còn nguyên vẹn khiến bài hát thứ hai này chứa chất rất nhiều hình ảnh và những xúc cảm liên quan đến nàng: “Trông bốn phương mờ hàng lệ thắm. Mơ đến em một ngày đầm ấm. Nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương. Tìm đến em nay còn đâu…”.

4 năm trôi qua kể từ khi rung lên tiếng lòng đầu tiên với bài “Mơ hoa”, đến năm 1949, số phận lại xui khiến Hoàng Giác gặp được một người con gái thứ hai. Với phái mày râu, chẳng cứ mối tình đầu tiên mà mối tình nào cũng đẹp, cũng mãnh liệt kể cả đến mối tình thứ n, miễn người con gái của lòng mình để lại được những ấn tượng đẹp, phù hợp với mình, khiến mình yêu say đắm.

Mối tình thứ hai của Hoàng Giác dẫn đến sự hứa hẹn hai người sẽ về chung trong một mái ấm. Nhưng rồi số phận lại xô đẩy cô nàng phiêu dạt vào miền Nam, để rồi hai người lại ly tán. Và Hoàng Giác viết nên bài “Lỡ cung đàn” với những lời ca thật nuối tiếc, xót xa: “Nửa chừng xuân cung đàn lỡ. Xa xôi rồi quên câu ước thề…”. Hoàng Giác không giấu tâm sự của mình. Ông nói rằng đến mãi về sau này, khi đã bước sang dốc bên kia cuộc đời, cứ mỗi khi cầm đến cây đàn ghita là ông lại nhớ đến kỷ niệm này.

Sau khi người con gái này vào Nam, nhạc sỹ ngẩn ngơ mất một thời gian thì đến năm 1951, ông nghe đồn ở Hà thành có một người con gái đẹp nức tiếng khiến bất cứ chàng trai nào cũng phải mơ ước. Nàng tên là Kim Châu. Tất nhiên, Hoàng Giác không nằm ngoài số này.

Biết ước muốn của con, song thân nhạc sỹ nhờ mai mối đánh tiếng ướm hỏi Kim Châu cho con trai mình. Nhưng Châu bị bạn bè, người thân gièm pha rằng không nên nhận lời anh chàng “xướng ca vô loài”, lại nghèo rớt mồng tơi. Nhưng nàng phớt lờ những lời đàm tiếu. Cũng vì nàng đã nhiều lần cùng cha mẹ đến Nhà hát Lớn xem ca nhạc, đã được nghe tiếng hát cùng phong cách hào hoa của chàng trên sân khấu mà mình đã ngưỡng mộ từ lâu (trong Tuần lễ Vàng sau ngày lập nước, Hoàng Giác lên diễn thuyết. Kim Châu nghe, đã tháo hết trang sức đeo trên người bỏ vào thùng để ủng hộ cách mạng). Thế rồi đám cưới nhanh chóng diễn ra. Hoàng Giác ngất ngây trong hạnh phúc. Nhưng cặp vợ chồng trẻ chỉ yên ổn được 15 năm. Đến năm 1966, một tai họa bỗng chốc đến với ông.

Số là do bài “Ngày về” quá nổi tiếng, chính quyền Sài Gòn đã dùng làm nhạc hiệu cho buổi phát thanh chiêu hồi trên Đài của họ có tên “Tiếng chim gọi đàn” (chương trình này nhằm kêu gọi các chiến sỹ giải phóng đào ngũ, về với cái gọi là “Chính nghĩa quốc gia”).

Ngày ấy, chúng ta chưa có tư duy cởi mở như bây giờ nên mặc nhiên tác giả của bài hát ít nhiều bị liên lụy. Từ đó cho mãi đến thời kỳ Đổi mới, ông chỉ lao vào dạy đàn để kiếm sống. Bà Kim Châu trở nên một người vợ rất tần tảo, chịu thương chịu khó, đã làm đủ mọi công việc cực nhọc để đắp đổi cuộc sống qua ngày.

Cả đời sáng tác của Hoàng Giác chỉ vỏn vẹn có chừng 20 bài hát, trong đó nổi bật, sống mãi với thời gian là “Mơ hoa” và “Ngày về”. Nhạc sỹ là người điềm đạm, không thích ồn ào, nói về mình. Ngày ông chưa qua đời, tôi đã nhiều lần đến thăm ông (vì từng có thời gian học đàn ghita ở ông) và bày tỏ ý muốn viết về ông. Nhưng ông đều khước từ mà rằng: “Hai bài hát của mình đã quá xưa cũ rồi. Mình chẳng có gì khác đáng viết đâu”. Đến khi tôi được mời làm một tuyển tập những bài tình ca, đến xin ông văn bản hai ca khúc trứ danh thì ông lại cũng từ chối. Vậy là tôi đành chịu. Cho đến hôm nay, khi ông đã về cõi vĩnh hằng tôi mới dám viết về ông. Âu cũng là xin ông ở cõi Niết Bàn đại xá cho sự tự ý của tôi.

Hoàng Giác không có bất cứ một danh hiệu gì của một nghệ sỹ nhưng tác phẩm và cuộc đời ông đáng viết thành cả một cuốn sách chứ không chỉ một bài báo, vì còn rất nhiều chuyện đời, chuyện sáng tác của ông rất phong phú mà một bài báo không thể nói hết.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.