Nhạc sĩ số 1- đôi điều ít người biết

Tôi nhớ có lần, trả lời phỏng vấn trên một tờ báo, khi được hỏi: "Theo ông, ở Việt Nam, nhạc sỹ nào là số 1?", tôi đã trả lời: "Đỗ Nhuận". Vâng. Tôi trả lời như vậy mà không ngại có thể bị phản bác hoặc có nhạc sỹ nào đó phật ý. 

Có thể Đỗ Nhuận (1922-1991) không là tác giả Quốc ca như Văn Cao, không có những ca khúc từng là bài hát chính thức của những chính thể như Lưu Hữu Phước. Nhưng sự nghiệp âm nhạc của ông quá đồ sộ cả về số lượng và chất lượng, lại đa dạng, gồm cả thanh nhạc lẫn khí nhạc.

Trong thanh nhạc, chẳng những ông có nhiều ca khúc có giá trị vĩnh hằng mà còn là người đầu tiên ở nước ta sáng tác ôpêra với hai tác phẩm hoành tráng mà sau đó chưa có ai sánh kịp "Cô Sao" và "Người tạc tượng". Về ca khúc, tác phẩm của ông phủ lên rất nhiều đề tài, bao quát những chặng đường lịch sử dài với nhiều tìm tòi độc đáo - đặc biệt là việc khai thác những chất liệu và tiết tấu của âm nhạc dân gian cổ truyền rất thành công.

Có lẽ mãi mãi, người ta không thể quên những bài bất hủ: "Du kích ca", "Áo mùa đông", "Nhớ chiến khu", "Du kích sông Thao", chùm 3 bài liên quan đến chiến dịch Điện Biên Phủ  ("Hành quân xa", "Trên đồi Him Lam", "Chiến thắng Điện Biên"), "Việt Nam quê hương tôi", "Vui mở đường", "Đường bốn mùa xuân", "Hát mừng các cụ dân quân"…

Cố nhạc sỹ Đỗ Nhuận.
Cố nhạc sỹ Đỗ Nhuận.

Ở mảng đề tài nào, Đỗ Nhuận cũng tìm được những ngôn ngữ âm nhạc mới mẻ dựa trên chất liệu dân gian cộng với sự tìm tòi công phu về tiết tấu tạo nên những ca khúc có màu sắc độc đáo, mới nghe đã rất ấn tượng. Bút pháp, phong cách âm nhạc của Đỗ Nhuận rất đa dạng. Ông rất cao tay trong việc sử dụng, chế biến chất liệu dân ca để tạo nên ca khúc của mình.

Có thể chứng minh điều này ở bài "Chiến thắng Điện Biên" - ca khúc xếp vào hàng những bài hay nhất trong kho tàng âm nhạc cách mạng Việt Nam. Ở bài này, Đỗ Nhuận đã nhào nặn, pha trộn hai chất liệu ở điệu "sắp qua cầu" (chèo) và "xòe Thái" để tạo nên giai điệu. Tinh ý, ta sẽ nhận ra câu "Xiết bao sướng vui từ ngày lên Tây Bắc/ Đồng bào nô nức mong đón ta trở về" chính là câu "Ấy mấy bông lúa thơm kìa là bông lúa chín, chín mọng í ỉ ì…" ở điệu "Sắp qua cầu".

Nhưng chỉ một câu rồi tác giả phát triển đi khá xa, tạo cho bài hát dáng vẻ mới mẻ, hiện đại. Có thể lấy Đỗ Nhuận làm minh chứng rõ nhất, tiêu biểu nhất cho khuynh hướng sáng tác đúng đắn là "dân tộc, hiện đại" mà chúng ta vẫn phấn đấu, theo đuổi  từ lâu. Điều này chẳng những thể hiện rõ trong các ca khúc mà còn được ông quán triệt trong những tác phẩm nhạc không lời.

Đỗ Nhuận là một nhạc sỹ lớn (về giá trị tác phẩm), có cương vị lớn (lãnh đạo Hội Nhạc sỹ). Nhưng ông giản dị (chứ không phải là đơn giản) trong tư duy và phong cách sống. Thoạt nhìn hoặc mới tiếp xúc, dễ nghĩ ông khô khan, lạnh lùng, khó gần. Nhưng quan hệ lâu hoặc ít nhất là nói chuyện lâu sẽ thấy trong ông là một kho phong phú vốn sống và tri thức âm nhạc. Và ông sâu sắc, chân tình. Ông là người không thích nói nhiều mà nói bằng việc làm, bằng hiệu quả.

Liên quan đến ông, có nhiều chuyện khiến tôi không thể quên. Tôi nhớ lần đầu tiên tiếp xúc với ông là khi tôi tìm đến chơi nhà cô bạn cùng học một lớp ở Đại học Tổng hợp Văn vào dịp mùa hè năm 1966 hay 1967 gì đó. Cô là con gái út họa sỹ Nguyễn Phan Chánh, nhà ở 65 phố Nguyễn Thái Học (Hà Nội). Đây là tòa nhà có nhiều văn nghệ sỹ tên tuổi cư trú. Khi ra về, tôi thấy bên hàng xóm nhà cô bạn một vị to, mập, trông rất bệ vệ và khác người. Cô cho tôi biết đó là nhạc sỹ Đỗ Nhuận. Tôi đã nghe tên tuổi và thuộc lòng nhiều bài hát của ông nên rất muốn được gặp nhưng ngại vì khi ấy ông đã quá nổi tiếng, lại đang đứng đầu Hội Nhạc sỹ Việt Nam, còn tôi chỉ là chàng sinh viên 20 tuổi.

Cô bạn hiểu ý bèn nói: "San muốn gặp Đỗ Nhuận phải không? Để mình giới thiệu nhé. Chú ấy thoải mái lắm. Đừng ngại". Và khi gặp, đúng là ông không khiến tôi ngần ngại. Ông hỏi tôi thuộc được những bài hát nào của ông. Tôi kể ra gần hết. Ông có vẻ thích thú khi tôi thuộc, hát cho ông nghe cả bài "Người chiến thắng là anh" ông cộng tác cùng nhạc sỹ Phê-rê viết về Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.

Khi tôi hỏi ông có người con nào nối nghiệp cha không thì đúng lúc đó có một cậu bé chừng 10 tuổi chạy vào chào tôi. Mặt mũi cậu rất sáng sủa, thông minh. Ông chỉ vào cậu, nói: "Có thằng cu này, con đầu của mình, có năng khiếu, có thể làm âm nhạc". Ông chỉ nói vậy, không nói gì thêm về tài năng sớm phát lộ của cậu.

Rồi nhiều năm sau đó, khoảng năm 1980, lúc này tôi làm phóng viên âm nhạc ở một tờ báo, có dịp đến Hội Nhạc sỹ Việt Nam gặp Đỗ Nhuận để phỏng vấn ông về tình hình âm nhạc từ khi đất nước được thống nhất. Tôi nhắc lại đã gặp ông hơn 10 năm về trước và hỏi về cậu con trai đầu của ông bây giờ ra sao. Ông lại trả lời rất vắn tắt: "Nó đang học tại Nhạc viện Traicốpski".

Thì ra đó là Đỗ Hồng Quân, sau này là một nhạc sỹ cũng rất nổi tiếng trong lĩnh vực sáng tác khí nhạc và chỉ huy, hiện đang là Chủ tịch Hội Nhạc sỹ Việt Nam giống như mấy chục năm về trước người cha của anh đảm nhiệm.

Khi đã có chừng mươi bài hát được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và nhiều bài lý luận đăng ở nhiều tờ báo, tôi mạnh dạn xin với Đỗ Nhuận để được vào Hội Nhạc sỹ Việt Nam. Nhưng ông nói thẳng: "Chưa được đâu. Cậu cứ tiếp tục phấn đấu thêm nữa. Vả lại, mình sắp nghỉ công tác ở Hội. Huy Du sẽ lên thay. Mình sẽ nói với Huy Du chú ý đến cậu". Và mấy năm sau đó, tôi được kết nạp vào Hội. Đến bây giờ, tôi không thể không nhớ ơn Đỗ Nhuận về việc riêng này của mình. 

Nhạc sỹ Đỗ Nhuận và con trai - nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân thời trẻ.
Nhạc sỹ Đỗ Nhuận và con trai - nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân thời trẻ. 

Trước khi bài báo phỏng vấn ông như đã nói lên khuôn, tôi đưa ông đọc lại. Ông gạch bỏ tất cả những từ có ý đề cao mình (nhưng sự thực rất xứng đáng) như "nhạc sỹ lớn", và thay bằng "có nhiều đóng góp". Khi tôi viết: "Hổ phụ sinh hổ tử. Đỗ Nhuận có đứa con trai có triển vọng nối tiếp rực rỡ sự nghiệp âm nhạc của ông khi đang tu nghiệp ở một nhạc viện lớn, hàng đầu thế giới là Traicốpsky". Ông gạch bỏ câu này. Tôi hỏi thì ông nói: "Biết thế nào mà nói trước. Hãy cứ để sau này sẽ hay. Chớ ồn ào".

Đỗ Nhuận là người rất chân thành. Trong bài "Việt Nam quê hương tôi" của ông, có một câu: "Cô thiếu nữ dạt dào tình trẻ/ Dáng xinh tươi sao chẳng muốn cười". Tôi muốn phát biểu với ông nhưng rất ngại vì ông là nhạc sỹ lớn trong khi mình khi ấy chưa đáng học trò của ông. Tôi bèn tìm cách vào vấn đề khéo: "Sao anh lại viết "Dáng xinh tươi sao chẳng muốn cười?".

Ông trả lời: "Sao, có vấn đề gì à? Cậu thấy có gì cứ nói. Đừng ngại". Khi ấy tôi mới dám góp cho ông là cô gái Việt Nam trước bức tranh diễm lệ của quê hương đất nước thì phải rất thích thú, say mê. Vậy sao lại không muốn cười? Ông gật gù, mày hơi nhíu lại rồi nói: "Bài hát lan truyền rồi. Nhưng để mình xem lại". Rồi sau đó ít ngày, nghe Đài, tôi thấy đổi lại là: "Dáng xinh tươi đang tuổi yêu đời".

Sự ra đời của Đỗ Nhuận cũng thật đặc biệt. Đó là một ngày mùa hè năm 1922, tại một làng quê tỉnh Hải Dương. Nhà bố mẹ nghèo, ở trong căn nhà vách đất rất chật hẹp. Các cụ kiêng cữ, không cho con dâu sinh ở trong nhà nên phải quây cót trên ổ rơm ngoài vườn ổi, lót chiếu manh rách để đẻ. Đến đêm thì trời đổ mưa, sấm sét rầm trời. Đỗ Nhuận cất tiếng khóc chào đời trong hoàn cảnh như thế. Tiếng khóc lẫn trong tiếng giông bão gầm rú. Nhưng rồi cũng tạnh ngay.

Hình như trời thương cậu bé sơ sinh mà chấm dứt cơn giông tố. Cũng thật lạ là cậu cứ nhắm mắt hoài, một tháng sau mới mở mắt. Cậu ra đời đúng vào tháng nhuận nên được bố mẹ đặt tên là Nhuận. Đến khi viết những bài hát đầu tiên ở thời kỳ tiền khởi nghĩa, Đỗ Nhuận lấy bút danh là Đỗ Quyên. Nhưng một lần, Thế Lữ nói cái tên đó nghe có vẻ con gái yếu đuối, cứ lấy đúng tên cha mẹ đặt. Thế là từ đó, tên Đỗ Nhuận mới được ký dưới mọi tác phẩm của ông.

Đỗ Nhuận đã qua đời được gần 30 năm. Nhưng tên tuổi, sự nghiệp sáng tác của ông vẫn sống mãi cùng năm tháng. Ông xứng đáng được nhận những danh hiệu cao quý nhất: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật ngay từ đợt đầu tiên, đặt tên cho một đường phố ở Hà Nội. Nhưng vinh quang hơn cả là ông đã sống trọn trong trái tim của nhiều thế hệ công chúng, mãi mãi theo thời gian.       

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...