Nhạc sĩ Quỳnh Hợp: Hành trình đi tìm sự khác biệt

Người ta nói, nhạc sĩ Quỳnh Hợp là người “mắn đẻ”, năm nào cũng phát hành ít nhất một Album ca nhạc. Quả thật, các kênh sóng thường vang lên những ca khúc của chị, trong nhiều chương trình, với những đề tài khác nhau. Không ít những chương trình biểu diễn lớn, mang tính sự kiện xã hội ở các tỉnh và thành phố, đều có sự góp mặt của chị. Chính vì thế, Quỳnh Hợp đã tạo những kỷ lục khá bất ngờ.

Những con số đáng mơ ước

Đầu tiên phải kể đến 6 ca khúc do Quỳnh Hợp sáng tác ngay từ khi mới về "đầu quân" cho đội ca nhạc binh chủng Thông tin quân đội (1981). Khi ấy chị mới 22 tuổi, vừa tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm nhạc họa Hà Nội, với tấm bằng loại ưu. Quỳnh Hợp chợt nhớ, nhờ sự khích lệ của nhạc sĩ, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, khi ấy là người ở cùng binh chủng, chị đã mạnh dạn sáng tác ca khúc đầu tiên “Em là chiến sĩ thông tin”.

Được mọi người nghe xong tán thưởng, Quỳnh Hợp viết một mạch thêm 5 bài nữa, trong đó có bốn bài phổ thơ của các chiến sĩ thông tin. Trong đêm biểu diễn, Quỳnh Hợp đã cầm đàn ghita lên tự đệm và hát những ca khúc của mình, với sự hưng phấn tột độ. Không ngờ, đó chính là một bước ngoặt có tính định hướng hành trình sáng tác đối với Quỳnh Hợp. 

Sau đó, khi chuyển sang Đoàn Văn công Phòng không Không quân (1983), Quỳnh Hợp không những là một ca sĩ chính mà còn sáng tác kịp thời những ca khúc cho binh chủng. Có đêm, Quỳnh Hợp phải biểu diễn liên tục 11 tiết mục, từ đơn ca đến song ca, tốp ca. Cả khi những đêm trời mưa gió, các chiến sĩ chăm chú ngồi xem anh em nghệ sĩ biểu diễn, trong ánh đèn mờ ảo.

Có không ít lần, ca sĩ Quỳnh Hợp đã rơi nước mắt khi nhìn thấy những chiến sĩ vừa đi tập luyện về, không kịp ăn đã vội vàng ra xem chị hát. Họ còn nhẩm hát theo lời ca một cách say sưa. Những nụ cười trẻ trung và ấm áp tình người đã đem lại sự hưng phấn cho các nghệ sĩ. Đây là cơ hội tích lũy vốn sống cho sự nghiệp sáng tác của Quỳnh Hợp.

Thời cơ đã đến khi chị được đơn vị cử đi tu nghiệp sáng tác tại Trường Nghệ thuật Quân đội khóa đầu tiên (1985-1988). Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Quỳnh Hợp đã sáng tác cho đơn vị Phòng không - Không quân với ca khúc “Những ngày bay hữu nghị”.

Sau đó, tác phẩm này được Hội Nhạc sĩ trao giải Ba (không có giải nhất), năm 1987. Đồng thời đây cũng là ca khúc làm tiền đề cho những sáng tác về đề tài binh chủng Không quân của Quỳnh Hợp, khi ra đời Album “Những đôi cánh thiên thần”. Có thể nói, đây là Album đầu tiên, sáng tác về binh chủng. Một kỷ lục mà Quỳnh Hợp tạo dựng.  

Sau khi tốt nghiệp trường Nghệ thuật Quân đội (1988), nhạc sĩ Quỳnh Hợp được chuyển sang Nhạc viện Quốc gia Hà Nội, tiếp tục học tại khoa sáng tác trong 5 năm. Một hành trình mới khẳng định tài năng của Quỳnh Hợp. Đó là chặng đường sáng tác miệt mài và khá phong phú của chị. Nhất là sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Quốc gia tại TP Hồ Chí Minh (1995), nhạc sĩ Quỳnh Hợp càng phát huy được sở trường, sáng tác đều đặn và tham gia những công việc tổ chức sự kiện âm nhạc. Chị là người biên tập và tổ chức các chương trình ca nhạc, trên đài phát thành TP Hồ Chí Minh, nơi chị công tác. Là biên tập viên âm nhạc, đồng thời cũng là một nhà báo, với chức năng sáng tác phục vụ phong trào, cùng những sự kiện chính trị xã hội.

Những ca khúc của Quỳnh Hợp liên tục xuất hiện từ đây. Hàng trăm ca khúc về các đề tài khác nhau ra đời, cũng như hàng trăm ca khúc viết về các vùng miền văn hóa, lịch sử, đời sống của Quỳnh Hợp được biểu diễn và phát trên các làn sóng xã hội. Chính vì thế, một loạt kỷ lục ca khúc của Quỳnh Hợp được hình thành, với 70 Album ca nhạc được phát hành.

Có thể kể ra những con số đáng nể của nữ nhạc sĩ này. Sau 20 bài hát về binh chủng Không quân là chương trình ca nhạc kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (2004), chị đã kịp có một Album, kèm theo trong đêm biểu diễn. Khi nhận lời tham gia, chị đã mất nhiều ngày đêm lên vùng Tây Bắc, nghiên cứu văn hóa, âm nhạc dân tộc Thái, các điệu xòe và đi sâu vào đời sống của người Điện Biên.

Trong mười ngày đêm, chị tập trung sáng tác, phổ thơ với những cảm xúc bồi hồi khó tả. Quỳnh Hợp có tới 11 bài hát được biểu diễn trong đêm kỷ niệm. Thật hy hữu. Với những vùng miền khác cũng vậy, Quỳnh Hợp có nhiều sáng tác để lại những dấu ấn khó quên. Riêng với Đà Lạt, chị có tới 7 Album, gần 100 ca khúc phổ thơ. Với Thủ đô Hà Nội, Quỳnh Hợp đã phát hành 4 album, vừa sáng tác lời, vừa phổ thơ. Đây là nơi chị được sinh ra và lớn lên với bao kỷ niệm thân thương.

Nhạc sĩ Quỳnh Hợp còn là kẻ lãng du thực sự, đi bất cứ đâu, với bất cứ phương tiện nào, không nề hà khó khăn gian khổ. Hầu như địa phương nào cũng có album riêng của chị sáng tác và được phổ cập trên sóng ca nhạc. Điều đó không phải ai cũng làm được như Quỳnh Hợp. Bởi âm nhạc phải vang lên. Người nghe được thưởng thức.

Tính đến nay, hàng trăm ca khúc của Quỳnh Hợp thường thay nhau xuất hiện trên các làn sóng, đến với công chúng. Không ít các ca khúc của Quỳnh Hợp được người nghe yêu thích như: “Chuyện tình hoa ban”, “Lửa hội Điện Biên”, “Những mùa Tây Tiến”, “Ô kìa Mộc Châu”, “Giấc mơ mùa hạ”… hay “Phố Sài Gòn”, “Ngã ba huyền thoại”, “Gặp gỡ cao nguyên”, “Đà Lạt thành phố ngàn hoa”…

Những câu chuyện biển đảo

Trong thời gian vừa qua, Quỳnh Hợp nổi lên với những ca khúc về biển đảo, khi làm bùng nổ làn sóng với ca khúc “Tổ quốc nhìn từ biển” (phổ thơ Nguyễn Việt Chiến), năm 2011. Ca khúc nổi lên do nhóm Artista, tốp ca nam biểu diễn, với phong cách mới lạ đầy truyền cảm. Thời gian đó, ngày nào trên truyền hình cũng phát liên tiếp ca khúc này, trong khí thế hừng hực hào khí của đất nước. Ca khúc đã được giải C, Hội Nhạc sĩ Việt Nam.

Nhớ lại, nhạc sĩ Quỳnh Hợp tâm sự, duyên gắn bó với biển đảo đã manh nha từ trước. Năm 1988, chị đã sáng tác ca khúc “Nghe em hát ở Trường Sa”, và cũng đã tự biểu diễn từ ngày đó. Sau này nhạc sĩ Quỳnh Hợp còn được nhận giải A, cũng một bài về biển đảo, khi phổ thơ Trần Đăng Khoa (Lính đảo đợi mưa).

Nhưng chỉ đến khi được ra đảo Trường Sa (năm 2011), tiếp xúc với các chiến sĩ hải quân nơi sóng gió, Quỳnh Hợp mới viết được nhiều ca khúc hay về biển đảo. Những lá thư của chiến sĩ, biết bao câu chuyện cảm động của những người con xa quê. Bên cạnh đó là những mối tình tạm chia xa. Nhưng người chiến sĩ luôn hướng về đất mẹ, ngày đêm canh gác  sẵn sàng chiến đấu bảo vệ non sông. Tất cả đã khắc sâu vào tâm hồn người nghệ sĩ.

Những sáng tác của Quỳnh Hợp thấm đẫm nước mắt của nỗi nhớ nhung, hẹn hò. Tính cho đến nay, chị đã có trong tay 50 ca khúc viết về đề tài này, khiến mọi người khâm phục. Dịp này, nhạc sĩ Quỳnh Hợp cũng chọn lọc, cho ra liền một lúc 2 album.

Đồng thời, chị kết hợp với tác giả Lê Hồng Sơn tổ chức đêm biểu diễn tại Nhạc viện Quốc gia. Đó là kết quả chuyến đi sáng tác tại Trường Sa. Nhạc sĩ Quỳnh Hợp tự nhận xét đó là đợt sáng tác cháy bỏng nhất trong đời. Và đây cũng là một kỷ lục âm nhạc nữa của chị. Một dấu ấn để đời cho một nữ nhạc sĩ đối với công chúng yêu âm nhạc.

Xin cảm ơn các nhà thơ

Hầu hết hàng trăm sáng tác đã lên sóng và biểu diễn của nhạc sĩ Quỳnh Hợp đều phổ thơ. Chị là người yêu thơ và tìm ở đó những ý tưởng và hình tượng âm nhạc. Bản thân thơ đã ẩn giấu những nhịp điệu riêng, cũng là điểm tựa cho sự khởi thảo ban đầu của giai điệu ca khúc; khi dịu dàng, lãng mạn, khi sôi nổi trẻ trung, lại có khi rạo rực hào khí Tổ quốc, cùng tình cảm da diết với quê hương đất nước. Âm nhạc có ngôn ngữ riêng, được sáng tạo trên cơ sở của những hình tượng thơ sâu sắc.

Quỳnh Hợp luôn luôn tin cậy ở những nhà thơ và biết ơn họ. Hàng trăm nhà thơ đã gửi gắm chị. Đó là một hành trình đồng sáng tạo ở những góc độ khác nhau. Trong thơ có nhạc. Trong nhạc có thơ. Đồng thời, cái duyên của những người nghệ sĩ. Họ gặp nhau trên hành trình sáng tạo đi tìm cái riêng, cái khác biệt của mình. Nhạc sĩ Quỳnh Hợp đã làm được điều đó, sau gần bốn mươi năm miệt mài lao động, sáng tạo nghệ thuật.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.