Nhạc sĩ Nhật Lai – “Già làng âm nhạc Tây Nguyên”

Người dân thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên luôn tự hào vì quê hương họ có hai anh em nhạc sĩ Nhật Lai và nhà thơ Nguyễn Mỹ. Cả hai đều đã để lại cho đời nhiều tác phẩm âm nhạc, thi ca vô giá, đã được truy tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

1- Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, nếu như nhạc sĩ Đỗ Nhuận là người mở đầu cho nền nhạc kịch Opera với vở "Cô Sao" năm 1965, thì người kế tiếp là nhạc sĩ Nhật Lai với vở "Bên bờ Krông Pa" năm 1968, được sử dụng bằng nhạc cụ dân tộc. Có thể nói, đời sống âm nhạc của Nhật Lai đã hòa quyện với văn hóa dân tộc Tây Nguyên từ thời trai trẻ cho đến khi ông giã từ cuộc sống sau một cơn đau tim vào cuối năm 1987.

Tên thật của Nhật Lai là Nguyễn Tuân, sinh ngày 12-5-1931 trong một gia đình tiểu thương, cha ông hành nghề bốc thuốc nam, mẹ là phụ nữ thôn quê thuần phác. Có lẽ Nhật Lai đến với âm nhạc phần lớn là do gene văn nghệ của gia đình bên ngoại. 

Triều đình Huế thời bấy giờ đã từng mời ông ngoại của Nhật Lai ra cố đô để truyền dạy âm nhạc trong cung đình; còn những người cậu, dì của ông cũng là nghệ nhân đờn ca tài tử nhạc cổ, đào kép nổi tiếng, nên thời ấy họ đã lập một ban nhạc cổ lưu diễn ở các lễ hội, đám tiệc tại nhiều làng quê ở huyện Tuy An.

Thuở nhỏ Nhật Lai rất thích tụ tập bạn bè tổ chức các cuộc vui chơi, ca hát, diễn kịch và cầm sáo trúc tập thổi những bài hát tân nhạc đậm chất trữ tình lãng mạn. Mặc dù sau đó ông được người cậu dạy chơi đàn Mandoline, nhưng mỗi lần đi đâu Nhật Lai vẫn thường mang theo cây sáo trúc để thổi những bài hát: "Giọt mưa thu" của Đặng Thế Phong, "Trương Chi" của Văn Cao.

Nhạc sĩ Nhật Lai (bên trái) và Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ (ảnh chụp năm 1976).
Nhạc sĩ Nhật Lai (bên trái) và Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ (ảnh chụp năm 1976).

Sau khi ông nhập học trường trung học Bình dân Nam Trung bộ ở Quảng Ngãi vào độ đầu thu năm 1947, nhiều người bạn học cùng trường nhìn thấy dáng dấp ông thấp bé, có nhiều nét hao hao giống như người Nhật Bản, nên họ thường trêu đùa bằng tên gọi Nhật "lùn", Nhật "lai". Và đôi khi sự trêu đùa cũng trở thành duyên nợ, Nguyễn Tuân đã chọn cái tên Nhật Lai làm nghệ danh cho mình.

Những ngày đi học ở trường trung học Bình dân Nam Trung bộ, Nhật Lai là cậu học trò "cưng" nhất lớp, nên được thầy giáo - nhạc sĩ Văn Đông quan tâm truyền dạy nhiều kiến thức âm nhạc phương Tây, học hòa âm, chơi đàn Violon.

Cậu học trò đam mê âm nhạc đến mức thức trắng đêm để viết, đến sáng hôm sau hai người anh con bà dì ruột là "thính giả" đầu tiên thưởng thức nhạc phẩm mới của Nhật Lai.  Nhạc phẩm đầu tay trong sự nghiệp âm nhạc của ông là bài hát "Chiều trên cầu Bồng Sơn", tiếp đó là ca khúc "Căm thù thằng Tây cướp lúa đen" ghi lại cảm xúc của tác giả khi phải chứng kiến thảm cảnh binh lính Pháp hà hiếp, bóc lột dân lành, phá đập thủy nông Đồng Cam ở Phú Yên khiến cho những cánh đồng trải rộng ở đôi bờ châu thổ sông Ba khô cằn, xơ xác.

Học hết bậc trung học, Nhật Lai tình nguyện vào vùng địch hậu và được đưa về tỉnh Đắk Lắk khi vừa tròn 18 tuổi để đảm nhiệm công tác tuyên truyền chống Pháp, hoạt động văn nghệ kết hợp sưu tầm, nghiên cứu dân ca Tây Nguyên.

Từ những ngày đầu lên vùng đất này ông đã hòa nhập rất tự nhiên vào cuộc sống đời thường của đồng bào các dân tộc thiểu số. Ông đi chân đất, đóng khố, mang gùi, lên nương rẫy trỉa lúa trồng ngô, vót chông cài bẫy, săn bắn thú rừng và học tiếng Ê đê, Gia Rai, H'rê, Ba Na. Ông như một nghệ sĩ thực thụ của núi rừng Tây Nguyên khi cất công lặn lội đến nhiều buôn làng tìm hiểu đời sống âm nhạc dân gian của mỗi dân tộc rồi ghi chép lại để nghiên cứu.

Rất nhiều ca khúc đã được nhạc sĩ Nhật Lai sáng tác giàu âm hưởng và đậm chất núi rừng Tây Nguyên, trong đó có nhiều ca khúc nổi tiếng như "Chim Kơ tia", "Đợi chờ", "Thương anh cán bộ", "Tiếng cồng đêm ngừng chiến", "Xuống chòi mau lên em"… đã khiến cho nhiều thính giả nhầm tưởng tác giả là người dân tộc thiểu số.

Tập kết ra Bắc năm 1954, nhưng mặt trời Tây Nguyên vẫn tỏa rạng trong trái tim và ký ức của ông, nên nhiều nhạc phẩm, ca kịch viết về Tây Nguyên vẫn được nhạc sĩ Nhật Lai cho ra đời giữa lòng miền Bắc như: "Chim Pông K'le", "Tiếng hát Mơnông Ti pri", "Mặt trời Ê đê", "Suối đàn T'rưng", "Đợi chờ", "Con chim lạc đàn, "Câu chuyện bên dòng suối"…

2- Với tính cách dung dị, chân thành nhưng cũng rất cuồng nhiệt trong sáng tác, Nhật Lai hòa nhập rất tự nhiên vào đời sống sinh hoạt ở Tây Nguyên nên ông khai thác được nhiều di sản âm nhạc dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số khi chưa có người quan tâm. Sau nhiều ca khúc thấm đẫm chất dân gian và giàu sức sáng tạo nghệ thuật, nhạc sĩ Nhật Lai đã cho ra đời hàng loạt ca kịch, ca cảnh, nhạc múa đậm chất Tây Nguyên như : "A ma Trang Lơn", "Thử lửa", "Hơ Bia", "Hơ On",  "Nữ thần mặt trời"…

Đặc biệt "Bên bờ Krôngpa" sáng tác năm 1968 như một đỉnh cao âm nhạc của nhạc sĩ Nhật Lai về Opera và ông trở thành người thứ hai trong lĩnh vực nhạc kịch, sau nhạc sĩ Đỗ Nhuận… Nhắc đến bậc tiền bối trong giới âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Quang - nguyên Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Phú Yên cho biết:"Nhạc sĩ Nhật Lai là người có công đầu khai thác, phát huy những giá trị đặc sắc của âm nhạc các dân tộc Tây Nguyên.

Nhiều tác phẩm khí nhạc của Nhật Lai đã được đánh giá cao tại những cuộc biểu diễn trong và ngoài nước. Ngoài ra, nhạc sĩ Nhật Lai còn có nhiều công sức đóng góp trong xây dựng và đào tạo đội ngũ Đoàn Văn công Tây Nguyên thời kháng chiến chống Mỹ…".

Trong gia tài âm nhạc của nhạc sĩ Nhật Lai, nhiều người biết đến ca khúc  "Hà Tây quê lụa" sáng tác năm 1965 và đã được tuyển chọn làm nhạc hiệu "tỉnh ca" trên sóng của Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Tây một thời qua giọng hát sâu lắng của nghệ sĩ Quốc Hương.  Giới nghiên cứu âm nhạc đánh giá "Hà Tây quê lụa" là tác phẩm đặc sắc trong sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ tài hoa Nhật Lai. "Hà Tây quê lụa" nằm trong tuyển tập âm nhạc "Đường tôi đi dài theo đất nước" với 64 ca khúc được chọn làm nhạc hiệu ở 64 tỉnh, thành phố trong nước.

Khi vợ đầu là nghệ sĩ múa người dân tộc Khơ me Châu Ngọc Lệ qua đời, nhạc sĩ Nhật Lai đã gửi gắm tình yêu thương người phụ nữ này bằng một chương "Nước mắt viên ngọc" trong tổ hợp giao hưởng "Đất lửa". Người đàn bà thứ hai đến với nhạc sĩ Nhật Lai là người dân tộc Vân Kiều - ca sĩ Hồ Thị Kha Y, tốt nghiệp Đại học thanh nhạc ở Rumani, sau này là giảng viên Trường Văn hoá nghệ thuật Gia Lai.

Khi đang ở tuổi 56 - độ tuổi vẫn còn sung sức trong sáng tạo nghệ thuật âm nhạc, nhạc sĩ Nhật Lai đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 5-1-1987, sau chuyến trình diễn thành công tổ hợp giao hưởng "Đất lửa" tại thủ đô Riga - Cộng hòa Latvia.

Với sự cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam bằng nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, nổi bật nhất là 18 vở nhạc kịch-ca kịch, 6 tác phẩm khí nhạc, 2 nhạc phim và trên 40 ca khúc… nhạc sĩ Nhật Lai đã được truy tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2002.

Nhật Lai là người đi đầu trong sưu tầm, biên soạn dân ca Tây Nguyên, ông đã ghi chép, thuộc nằm lòng hàng trăm bài dân ca, viết hàng trăm ca khúc tiếng dân tộc và được ví như "nghệ nhân hát rong", là "già làng" âm nhạc ở Tây Nguyên.

 Em trai của nhạc sĩ Nhật Lai là nhà thơ Nguyễn Mỹ - sinh ngày 21-2-1936. Năm 1954, Nguyễn Mỹ lên tàu biển rời cảng Quy Nhơn (Bình Định) tập kết ra Bắc, công tác ở Đoàn Văn công Tây Nguyên rồi học lớp báo chí của Trường Tuyên huấn Trung ương trước khi về công tác, Nhà xuất bản Phổ Thông. Năm 1968, nhà thơ Nguyễn Mỹ trở lại chiến trường miền Nam làm phóng viên báo Cờ Giải phóng Trung Trung bộ thuộc Ban Tuyên huấn văn nghệ Khu V. Nguyễn Mỹ đã hy sinh tại xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My (Quảng Nam) ngày 16-5-1971. Ông là tác giả bài thơ tình nổi tiếng: "Cuộc chia ly màu đỏ" sáng tác năm 1964.

Tác phẩm chính của ông gồm "Trận Quán Cau" - tập bút ký (1954), "Sắc cầu vồng" - tập thơ (1980, in chung với Nguyễn Trọng Định) và "Thơ Nguyễn Mỹ" - tập thơ (1993). Nhà thơ Nguyễn Mỹ đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.

Phan Thế Hữu Toàn

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.