Nhạc sĩ … một bài

Chắc hẳn có rất nhiều người biết bài hát “Vì nhân dân quên mình”. Đối với người Việt Nam có lẽ bài hát “Vì nhân dân quên mình” là bài hát thân thuộc thứ hai sau bài “Tiến quân ca”. Nếu “Tiến quân ca” là quốc ca thì đã từ lâu, mặc nhiên, ai cũng coi “Vì nhân dân”... là quân ca. Nhưng tác giả của ca khúc này thì hầu như rất ít người biết. Cái tên Doãn Quang Khải chỉ được biết trong giới nhạc, cùng lắm là một số cán bộ chính trị trong Công an và Quân đội.

Từ lâu, tôi đã được nghe nhiều “giai thoại” xung quanh tác giả và tác phẩm này. Người ta bảo rằng Doãn Quang Khải nghĩ ra giai điệu nhưng không ghi được nốt nhạc lên giấy, phải nhờ người thạo ký âm ghi hộ. Lại có người nói lúc đầu bài hát không được như mọi người đã biết mà còn vụng về và nhiều chỗ lủng củng, phải có một nhạc sĩ tên tuổi sửa chữa, nâng cao thành tác phẩm hoàn chỉnh. Vị nhạc sĩ đó có người nói là Nguyễn Xuân Khoát, người lại bảo là Lưu Hữu Phước, lại có người đồn là Đỗ Nhuận. Cả ba cây đại thụ đều đã quy tiên nên chẳng ai minh chứng được điều này.

Có lần tôi lại nghe nói Doãn Quang Khải sau khi rời quân ngũ đã về nghỉ tại một vùng quê nào đó ở huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (cũ) cho đến khi qua đời (năm 2007). Người ta cũng kháo nhau rằng ông là nông dân một trăm phần trăm, ngày ngày làm vườn, trồng cây, chăn gà vịt, nuôi lợn. Họ còn hài hước kể rằng ngay cả bản thân ông cũng đã quên khuấy bản nhạc “Vì nhân dân quên mình” ngày nào cũng vang lên ít nhất một lần trên đài phát thanh là của mình. 

Họ kể: Một lần, có một đứa trẻ con bên hàng xóm chơi ở nhà ông, vô ý bật đài quá to, đến đinh tai nhức óc đúng lúc nhạc hiệu chương trình phát thanh Quân đội nhân dân vang lên khiến ông quát: “Nhức đầu quá! Tắt đi!”. Đúng lúc ấy có một anh cán bộ huyện đi qua, thấy vậy đã nói với ông: “Bác Khải, nhạc của bác đó thôi, tưởng bác phải muốn vặn to nữa chứ!”. Chẳng hiểu ông có nghe thấy anh ta nói không mà vẫn thản nhiên: “Nhạc nào? Ồn ào, nhức đầu, không nghe được!”.

Cố nhạc sỹ Doãn Quang Khải (1925 – 2007).
Cố nhạc sỹ Doãn Quang Khải (1925 – 2007).

Tò mò, tôi quyết định phóng xe từ Hà Nội lên thăm ông. Đó là một ngày cách đây cũng đã hơn 20 năm. Mặc dù đã hỏi được địa chỉ cụ thể nơi Doãn Quang Khải đang ở, nhưng để tìm đến cái xóm Đông, thôn Phú Mỹ, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (cũ) không phải chuyện dễ dàng, bởi có quá nhiều ngõ ngách, phải hỏi thăm tới cả chục lần mới tới được nhà ông. Đó là một xóm lúp xúp những mái nhà ngói cũ kỹ, kiểu như những nhà ở thành phố ta vẫn quen gọi là nhà cấp 4, chỉ khác có nhiều cây cối trong vườn.

Một ông già tóc bạc phơ, chừng hơn 70 tuổi, gầy khẳng, lọ mọ ra đón khách. Doãn Quang Khải đã kể chuyện khá cởi mở, thân mật. Hóa ra, ông có cuộc sống không như người ta đồn đại. Khoảng năm 1984, 1985, ông rời quân ngũ, về hưu với hàm trung tá (chứ không phải thiếu tá như tôi đã nghe). Ông sinh năm 1925, nghĩa là đến lúc về hưu đúng tuổi theo quy định của Nhà nước. 

Ông bảo rằng trong Quân đội, về thế là muộn. Rất nhiều vị còn về sớm hơn, có khi 50 tuổi đã về, nếu đã  “kịch trần” tức là năng lực công tác không thể thăng tiến quân hàm được nữa. Đó là điều hết sức bình thường, chứ chẳng phải có “vấn đề” gì như ở các cơ quan dân sự, cứ về hưu là cả một “sự kiện động trời”. Ông còn được người ta giữ lại thêm, so với nhiều đồng chí cùng tuổi. Về sống ở quê nhà, ông cũng như mọi người về hưu vui cảnh điền viên. 

Qua lời ông kể, các con ông đều đã phương trưởng, hiếu thảo, tử tế, thỉ thoảng biếu bố mẹ chút đỉnh. Hôm tới, tôi thấy ông bà đang vui cùng đứa cháu nội kháu khỉnh. Ông bà sống với nhau vui vẻ, đầm ấm. Bà hiền, ít nói, đích thực một phụ nữ chân quê. Ông gầy nhưng không đến nỗi ốm o, tiều tụy. Chỉ phải cái răng sớm lung lay và gẫy nhiều, thành ra giọng nói không được vang, chắc. Ông có dáng một ông giáo làng đã về hưu. Con người có phần tao nhã, giản dị và cũng vui, nếu gợi đúng chuyện, hợp “gu”.

Nhạc và lời bài hát “Vì nhân dân quên mình”.
Nhạc và lời bài hát “Vì nhân dân quên mình”.

Và Doãn Quang Khải lim dim đôi mắt như chìm đắm vào quá khứ để cố nhớ ra một quãng đời đã lùi rất xa vào dĩ vãng.

“… Đó là năm 1951 hay 1952 gì đó. Đúng rồi, đích xác là năm 1951, tôi được tham dự khoá 6 Trường Sĩ quan lục quân của ta đóng ở Vân Nam (Trung Quốc). Trường này đào tạo cán bộ trung đội. Khi ấy, tôi 26 tuổi. Một lần, trường phát động đợt sáng tác thơ ca hò vè, yêu cầu toàn thể giảng viên và học viên tham gia. Tôi vốn yêu thích âm nhạc từ nhỏ. Vào bộ đội, tôi cũng tập toạng vài ngón đàn ghi ta, măng đô lin và ca hát. Một lần, tôi may mắn được quen nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát trong dịp ông sang trường nói chuyện. Biết tôi yêu âm nhạc, ông đã sẵn sàng chỉ bảo một số kiến thức về âm nhạc và dạy tôi biết sơ qua về ký âm. 

Được ông tiếp sức và cổ vũ, tôi quyết định mạnh dạn sáng tác một bài hát để tham gia đợt vận động của nhà trường. Nhưng viết gì đây? Tôi nghĩ mình là bộ đội đang trong giai đoạn kháng chiến đánh giặc nên viết một bài hát về bộ đội chiến đấu. Nhưng như vậy vẫn chung chung quá. Đúng lúc đó, đọc Báo Quân đội nhân dân thấy có một khẩu hiệu in ngay đầu trang nhất là “Vì nhân dân phục vụ”. Thế là tôi chộp ngay ý đó và nghĩ đây chính là chủ đề bài hát của mình. 

Nhưng tôi thấy hai tiếng “phục vụ” nghe vừa không có âm nhạc, vừa vẫn còn chung chung, chưa cụ thể, mạnh mẽ. Tôi bèn đổi thành “quên mình” cho có âm nhạc hơn, và mức độ phục vụ, cống hiến cao hơn. Thế là tôi lấy luôn tên bài hát là “Vì nhân dân quên mình”, đồng thời đó cũng là chủ đề âm nhạc gắn với câu đầu tiên dẫn vào bài hát: “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh…”. 

Hôm sáng tác bài này là một ngày tháng 5 năm 1951, buổi tối có hội họp hay sinh hoạt gì đó một lúc. Đến 9h tối, tôi bắt đầu sáng tác và đến 12h đêm thì hoàn thành. Sau đó, tôi dùng kèn ác mô ni ca thổi đi thổi lại giai điệu để sửa chữa cho hoàn chỉnh. Cả nhạc và lời, khi viết, tôi đã chọn lựa kỹ nên phần sửa lại không đáng kể. Tôi bằng lòng và yên tâm với bài hát của mình. 

Hôm sau hát cho anh em nghe. Mọi người tán thưởng, khen được, có không khí và yêu cầu tôi tập cho họ hát thử xem sao. Càng hát, càng hào hứng. Thế là bài hát thỉnh thoảng lại được vang lên trong những lúc sinh hoạt tập thể. Một năm sau – 1952 - tôi rất vui khi biết tin bài này cùng với 2 bài nữa là “Bộ đội về làng” của Lê Yên và “Thời cơ đến” - sáng tác tập thể của Sư đoàn 314 được lựa chon mang đi dự thi văn nghệ toàn quốc. 

Càng sung sướng hơn khi biết kết quả là bài của tôi đoạt giải nhì, không có giải nhất. Hai bài còn lại đoạt giải 3 và khuyến khích. Từ đó, bài hát cứ thế lan truyền đi khắp nơi. Sau giải thưởng văn nghệ toàn quốc lần ấy, bài hát như được chắp thêm cánh. Bộ đội hào hứng ca hát trên khắp các chiến trường cũng như trong các đêm lửa trại khi dừng chân trên các chặng đường hành quân”.

Như vậy là bài hát do Doãn Quang Khải hoàn toàn tự viết nên chứ không có sự sửa chữa, trợ giúp nào của ai khác như dư luận đồn đại trước đó mà tôi đã nghe. Việc ông cho ra đời bài hát cũng giản dị, dễ hiểu như chính tác phẩm vậy. Hình như từ trước tới nay, người ta mới chỉ thuộc, hát rồi truyền tụng mà chưa mấy ai để tâm nghiên cứu, mổ xẻ kỹ bài hát để thấy tác giả của nó thật kỳ tài. Ông không là nhạc sỹ, chỉ là một anh bộ đội (lúc ấy là học viên Trường Sĩ quan lục quân như đã nói). Vậy mà đã viết nên bài hát thật gọn gàng, xinh xắn, vuông vức, hàm súc, lại giành cho hát tập thể với một âm vực được khống chế tối đa - quãng 10 - đối với người lớn thật là quá lý tưởng, không dễ viết. 

Tôi hỏi ông: “Có bao giờ bác được ở đâu tặng thưởng bởi công sức đã làm nên một bài ca có giá trị lớn cho quân đội?”. “Duy nhất một lần. Đó là vào dịp kỷ niệm 40 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân, ngày 22 tháng 12 năm 1984, tôi được nhận một món quà nhỏ. Giá trị vật chất chẳng đáng bao nhiêu nhưng tôi vui sướng lắm''.

Và tôi càng ngạc nhiên khi biết rõ Doãn Quang Khải có tác phẩm nổi tiếng, bất hủ như thế lại không là hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam”.

Năm 2007, ông qua đời, để lại một sản phẩm tinh thần vô giá.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.