Nhạc sĩ của những nỗi buồn, cô đơn

Người ta vẫn nói buồn, cô đơn chính là những tâm trạng mang tính thẩm mỹ để nghệ sĩ viết nên những tác phẩm hay. Với nhiều người, đó chỉ là những khoảnh khắc nhất thời và cũng chỉ thoáng qua. Nhưng có một nhạc sĩ thì gần như là cả cuộc đời và ngay cả những giây phút hạnh phúc nhất, buồn và cô đơn vẫn xâm chiếm tâm hồn và lấn át tất cả. Đó là Lam Phương (1937 - 2020) - một trong những nhạc sĩ nổi tiếng, có đông công chúng nhất sống ở miền Nam nước ta trước năm 1975.

Những bản tình ca buồn man mác, trĩu nặng tâm tư của Lam Phương cho đến hôm nay vẫn len lỏi trong đời sống tinh thần của nhiều người, đặc biệt là bà con Việt kiều ở hải ngoại. Ca khúc của ông luôn xuất hiện trong những sinh hoạt cộng đồng của họ, đặc biệt trong các đại nhạc hội. Ông cũng là nhạc sĩ có nhiều bài được ngành Văn hóa đưa vào danh sách có thể trình diễn dưới mọi hình thức bởi tính thuyết phục của những giai điệu đẹp với lời ca chỉ thuần túy nói đến tình yêu lứa đôi và quê hương, đất nước.

nhac-si-lam-phuong-tac-gia-_651608701725.jpg -0
Cố nhạc sĩ Lam Phương.

Nếu bạn là người đa sầu, đa cảm, luôn thích sống với nội tâm, với những cảm giác trầm, buồn, lắng đọng hẳn là sẽ rất thích những ca khúc của Lam Phương. Ngay cả khi ông viết về thiên nhiên cũng vẫn toát lên tâm trạng như vậy. Ví như bài “Nắng đẹp miền Nam” ông vẽ nên một bức tranh bằng âm thanh thật đẹp về cái nắng đặc biệt của miền Nam lẽ ra phải vui, tươi sáng, vậy mà vẫn man mác buồn.

Một trong những ca khúc nổi tiếng, tiêu biểu nhất cho phong cách sáng tác của Lam Phương được rất nhiều người ưa thích, hầu như mọi ca sĩ đều tìm đến để trình diễn là “Thành phố buồn”. Bài này tác giả viết khi xa người tình thứ ba là Hạnh Dung để lên Đà Lạt. Đó là năm 1970, Lam Phương có việc phải đến thành phố mộng mơ này ít ngày. Nỗi nhớ Hạnh Dung da diết đã thôi thúc ông viết nên ca khúc bất hủ: “Thành phố nào nhớ không em/ nơi chúng mình tìm phút êm đềm/ Thành phố nào vừa đi đã mỏi/ Đường quanh co quyện gốc thông già/ Chiều đan tay nghe nắng chan hòa…”.

Ai đã từng ít nhất có một lần xa người yêu thương sẽ cảm nhận được hết nỗi bâng khuâng, da diết được thể hiện trong một giai điệu trầm lắng, u buồn này. Nghe kỹ hàng loạt bài khác như “Kiếp nghèo”, “Xin thời gian qua mau”, “Cho em quên tuổi ngọc”, “Trăm nhớ ngàn thương”, “Giọt lệ sầu”, “Xót xa”, “Thuyền không bến đỗ”, “Tình như mây khói”, “Tình người viễn xứ”, “Biết đến bao giờ”, “Biển tình”… ta đều có chung cảm giác Lam Phương lúc nào cũng trĩu nặng một nỗi buồn, u uẩn, khó có sự giải thoát. Chỉ nghe qua tên các bài cũng thấy rõ điều đó. Có lẽ hoàn cảnh, gia thế và cái “số” của Lam Phương đã tạo nên điều đó ở ông.

Lam Phương có tên khai sinh là Lâm Đình Phùng, ra đời ngày 20/3/1937 ở thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trong một gia đình nghèo khó có 7 anh chị em mà ông là anh cả. Do gia cảnh quá khó khăn, năm lên 10 tuổi, ông được mẹ gửi lên nhà người bác ruột ở Sài Gòn. Tại đây, ông đã phải tự kiếm sống bằng đủ mọi nghề: bán báo, đánh giày… Tuy không sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc nhưng bỗng nhiên cậu bé Phùng rất yêu thích bộ môn nghệ thuật này. Cậu tự mày mò học nhạc lý và vài thứ nhạc cụ thô sơ.

Năm 15 tuổi, cậu ham mê, bắt đầu sáng tác bài hát và đến bài thứ hai có tên “Khúc ca ngày mùa” được nhiều người tán thưởng. Không ai có thể hình dung một cậu thiếu niên mới 15 tuổi đã viết được bài tình ca “Chiều thu ấy” có lời lẽ rất ướt át, lai láng: “Chiều thu ấy, ngồi bên em dưới ánh trăng vai kề vai/ Nhìn mây bay, chiều lâng lâng theo gió lay hương mùa say…”.

Biết tác giả là một thiếu niên, nhiều người ngưỡng mộ và tò mò hỏi cậu nguyên cớ viết nên bài hát thì cậu cho biết sáng tác để tặng một cô bạn bằng tuổi, rất quan tâm và hay giúp đỡ mình. Cô mến thương người bạn nam nghèo khó, xinh trai, lại biết đánh đàn và tính tình rất hiền. Mới chỉ là tình bạn vô tư, chưa thể “có gì” nhưng Lam Phương cứ tưởng tượng ra một tình yêu lãng mạn vượt lên tuổi của mình như thế. Sự việc này rõ ràng đã báo hiệu một cuộc đời rắc rối, vướng vào nhiều người đẹp, luôn lụy vì tình của người nhạc sĩ tài hoa suốt một đời buồn và cô đơn ngay cả khi có người tình bên cạnh.

bai-hat-nao-cua-lam-phuong-co-gia-gap-20-lan-xe-hoi-20-nam-luong-dai-ta-2.jpg -0
Nhạc sĩ Lam Phương lúc trẻ.

Quả đúng như vậy. Mới 18 tuổi, Lam Phương đã yêu người đầu tiên là ca sĩ Bạch Yến khiến ông viết nên một loạt bài: “Chờ người”, “Trăm nhớ ngàn thương”, “Tiễn người đi”, “Tình chết theo mùa đông”… Mối tình đầu này không được bao lâu, ông vướng vào người thứ hai tên Minh Hiếu cũng là ca sĩ. Một lần đến dự Nhạc hội được tổ chức tại Nha Trang, Lam Phương gặp và nhanh chóng si mê sắc đẹp và giọng hát quyến rũ của cô. Chàng nhạc sĩ điển trai đến làm quen rồi rủ Hiếu ra bờ biển đi dạo. Cô nhận lời. Thế là cuộc tình xảy ra như một tiếng sét. Tuy mối tình thứ hai này cũng ngắn ngủi nhưng đủ thời gian để ông viết được các bài “Biển tình”, “Biết đến bao giờ”, “Thao thức vì em”…

Cái “số” của Lam Phương là yêu những ca sĩ. Người tình thứ ba cũng như vậy. Nàng có tên Hạnh Dung, cũng rất xinh đẹp, tuy về hát không hay bằng hai nàng trước. Bài “Thành phố buồn” nổi tiếng khắp bàn dân thiên hạ đã nhắc ở trên chính là viết trong những ngày Lam Phương lên Đà Lạt, phải xa người tình dẫu chỉ vài ngày. Rồi thì hạnh phúc cũng chẳng tày gang. Nhạc sĩ lại chia tay người đẹp này để đến với người thứ tư là diễn viên kịch nổi tiếng Trương Ánh Tuyết với nghệ danh Túy Hồng.

Cả 3 cuộc tình trước của Lam Phương diễn ra khi ông còn rất trẻ, mới 18 - 20 tuổi. Đến năm 1959, ở tuổi 22, ông quyết định cưới Tuyết, khép lại những năm tháng rong ruổi, phiêu lưu chốn tình trường. Lúc này nàng mới 19 tuổi. Những năm tháng đầu, họ sống hạnh phúc. Đánh dấu cuộc tình dẫn đến hôn nhân này, Lam Phương viết bài “Ngày hạnh phúc” với những nét nhạc tươi sáng, thoát ra được âm điệu buồn như sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi tác phẩm của ông: “Trời hôm nay xanh xanh/ gió đưa cành mơn man tà áo/ Làn mây xanh vây quanh ánh vừng hồng chiếu xuống niềm tin/ Đàn chim non tung tăng như đón chào niềm vui thế gian/ Chúc ai vừa tìm được bến mơ…”.

Sau năm 1975, Lam Phương đưa vợ con sang định cư ở Mỹ. Đến năm 1979, sau 20 năm chung sống, họ lại đường ai nấy đi. Rất đau buồn, ông viết những bài có cái “tít” chỉ một tiếng, tiêu biểu là “Lầm” và “Say”. Bài “Lầm” thể hiện sự hối tiếc với sai lầm lớn khi đưa vợ sang xứ người. Âm điệu bài hát day dứt, hối hận với sự tự trách mình thống thiết: “Anh đã lầm đưa em sang đây cho tâm hồn tan nát từng ngày”. “Say” có giai điệu thể hiện trạng thái chuếnh choáng như mất phương hướng trong giây phút đau khổ tột cùng: “Ta say, trời đất cũng say/ Ta điên vì những cuộc tình/ Ta buồn, ta chán cuộc đời vì đời bạc trắng như vôi…”.

Cũng như chuyện tình ái lúc tột đỉnh hạnh phúc khi tình yêu mới bắt đầu, khi xuống đáy sâu vực thắm lúc đổ vỡ, cuộc sống vật chất của Lam Phương cũng thật đặc biệt khi nghèo xơ xác, lúc lại rủng rỉnh tiền bạc. Mới sáng tác, ông phải vay mượn tiền để tự in những bản nhạc rồi suốt ngày gò lưng đạp xe để tự đi rao bán những bản nhạc mình viết ra. Nhưng vì còn vô danh, chưa ai biết đến nên không bán được. Dần dần, về sau, khi cái tên Lam Phương trở nên quen biết, tình hình mới được cải thiện. Đến khi bài “Thành phố buồn” xuất hiện thì trái ngược hẳn. Do bài hát quá hay, nổi tiếng, ông thu được rất nhiều tiền bản quyền, tậu được căn biệt thự có khuôn viên rộng 300 mét vuông ở Quận 10.

Lam Phương có hậu vận buồn. Quá nhiều cuộc tình trong đời với những năm tháng si mê, đắm đuổi rồi cũng nhanh chóng trôi qua để cuối cùng có được tổ ấm gia đình nhưng cũng chỉ được 20 năm. Sau khi rời bỏ người vợ Túy Hồng tại Mỹ, ông sang Pháp sống với người em gái. Đến năm 1995 lại trở về Mỹ, sống cô đơn. Đến năm 1999, ông bị tai biến, phải di chuyển bằng xe lăn trong suốt 21 năm để rồi ngày 22/12/2020, trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 83 tuổi.

Không phải ngẫu nhiên Lam Phương được công chúng phong tặng danh hiệu “ông vua nhạc tình”. Bởi vì mấy trăm ca khúc của ông chỉ nói đến tình yêu trai gái và thân phận con người. Người ta thuộc và ưa thích rất nhiều bài của ông. Hiện nay, ca khúc của Lam Phương vẫn thường xuyên được vang lên tại những tụ điểm ca nhạc ở TP Hồ Chí Minh, đặc biệt là bà con Việt kiều ở nước ngoài rất ưa thích. Sự ra đi của ông để lại một khoảng trống rất lớn trong đời sống tinh thần của họ.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.