Gs. Ts Trần Văn Khuê

Nhạc nương cánh hạc bay

Trước phút chìm vào hôn mê, GS Trần Văn Khê muốn nghe một bản đàn tranh do chính người bạn tri kỷ của ông - nhạc sư Vĩnh Bảo - đàn. Ngay tại tư gia, nhạc sư Vĩnh Bảo vội vã so dây...

Gảy bản nào, nhạc sư thu âm lại và gửi qua email. Rồi lại vội vã ngồi đàn và thu âm tiếp bản khác. Vị nhạc sư 97 tuổi mong âm nhạc như nhịp cầu bắc về bờ sự sống, làm nên điều kỳ diệu cho GS Trần Văn Khê như chính cuộc đời GS đã làm nên điều kỳ diệu cho âm nhạc dân tộc. Phòng hồi sức đặc biệt tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định vang lên những âm điệu da diết, như an ủi cho người nằm bất động với chi chít máy móc, dây nhợ trên chiếc giường trắng toát. Nhưng người ấy đã nương theo cánh nhạc mà tìm về thiên thai. Hết mọi đau đớn, hết mọi giày vò xác thịt của thân thể bệnh tật, già yếu. Bao nhiêu sức cùng, lực kiệt đã vắt hết cho xứ sở ông nằm lại. Ngày chào  đời và ngày giã biệt đời, tấm thân ông và cả linh hồn ông quyện chặt với cung đàn nỉ non của dân tộc...

Hồi tôi chỉ là một sinh viên báo chí thực tập, có lần muốn xin gặp ông nhưng lại không có số điện thoại. Tôi đành đánh liều đến trước cổng mà bấm chuông. Gọi là liều vì tôi đinh ninh một vị giáo sư nổi tiếng, bận nhiều việc như ông, không phải dễ gặp một cách đường đột như vậy. Chị Na, người giúp việc ra hỏi tôi gặp thầy Khê có chuyện gì.

Nghe tôi trình bày muốn đến tìm hiểu về âm nhạc thì tiếng ông vọng ra kêu tôi vào. Trên tay ông vẫn còn xấp tài liệu đang sao lưu dang dở. "Cháu muốn tìm hiểu cái gì? Coi bác có giúp được không?". "Dạ, cháu muốn tìm hiểu về lệ khai đờn của gia đình bác và các nghệ nhân đờn ca tài tử xưa". Ông mỉm cười: "Cháu đi theo bác". Chiếc xe lăn chầm chậm tiến đến những cây đàn đang treo trang trọng trên vách tường phòng khách.  Ông nhìn chúng trìu mến rồi bắt đầu kể về những ngày thơ ấu, tục khai đờn vào mồng Hai Tết hàng năm.

GS.TS Trần Văn Khê và nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng trong một buổi giảng giải, diễn tấu đàn tranh (ảnh Nguyễn Á).
GS.TS Trần Văn Khê và nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng trong một buổi giảng giải, diễn tấu đàn tranh (ảnh Nguyễn Á).

Thuở còn trong bụng mẹ, ông đã được sống trong không khí đờn ca của gia đình có bốn đời nhạc sĩ. Thôi nôi, theo phong tục miền Nam, gia đình bày những vật dụng có liên hệ đến nghề nghiệp để đứa bé chọn lựa, theo đó mà tiên đoán hậu vận của nó. Cậu bé Khê chụp lấy cây gươm gỗ rồi chụp luôn cả cây đờn. Một tay cầm gươm, một tay cầm đờn... cười toe toét. Có phải vậy mà sau này trong "Tự truyện Trần Văn Khê - Những câu chuyện từ trái tim", ông viết: "Với tôi, đờn cũng như một người bạn, mà còn là một người bạn đặc biệt hơn cả người tình. Tôi hết mực tôn trọng và không bao giờ có cử chỉ phũ phàng với đờn".

6 tuổi cậu đã được cậu ruột là Nguyễn Tri Khương dạy đờn cò (đàn nhị), đờn kìm (đàn nguyệt), 7 tuổi đã theo gánh hát cải lương của cô Ba Trần Ngọc Viện, 12 tuổi đã biết đánh đờn tranh, đánh trống nhạc...

 "Mồng Hai Tết, mọi người đều ăn mặc chỉnh tề, đẹp đẽ và ngồi quây quần giữa gian nhà chính của người cậu thứ tư - nơi đặt bàn thờ gia tộc. Con cháu tụi bác cũng được tham gia hòa đờn để học hỏi các bậc trưởng thượng. Năm đó bác 12 tuổi, lần đầu tiên được hòa đờn với bậc cha chú nên lấy làm hoan hỉ, hãnh diện lắm. Cô Ba Viện đờn trước, sau đó cả gia đình đờn theo, tấu bản đờn ca tài tử về ngày Tết như "Nam xuân"  và các bản tài tử Nam Bộ truyền thống như: "Ngũ đối hạ", "Tây Thi cổ bản", "Lưu Thủy", "Phú Lục".

Sau này, những đêm đông lạnh lẽo ở đất Pháp xa xôi, không khi nào bác quên việc khai đờn đầu năm. Nghe nó mà đỡ nhớ quê nhà…" - ông chậm rãi kể. Tiễn vị khách bất đắc dĩ không hẹn trước, ông dặn: "Hễ khi nào có điều chi cháu muốn biết về âm nhạc dân tộc, cứ đến. Đừng ngại. Có thời gian bác sẽ sắp xếp để chỉ cho cháu". Tôi nắm lấy đôi tay dạt xô nếp nhăn của ông, bàn tay ấy siết nhẹ ấm áp...

Tôi biết, không chỉ với tôi mà nhiều bạn trẻ muốn tìm hiểu về âm nhạc dân tộc, ông đều sẵn sàng chia sẻ. Bởi cả đời ông, đi trọn năm châu bốn bể với cây đàn dân tộc qua hơn 70 nước với hơn 200 buổi nói chuyện, hội thảo quốc tế cũng chỉ mong cây đàn ấy có thể ngân lên, khoe vẻ đẹp với  muôn nơi. Để rồi hơn 50 năm phiêu dạt xứ người, ông lại chợt giật mình nhận ra rằng, trước sự tấn công ồ ạt của những loại nhạc ngoại lai, kích động từ Âu Mỹ, giới trẻ Việt Nam sẽ bị lôi cuốn theo cái hào nhoáng bên ngoài mà không thấy được giá trị nghệ thuật sâu sắc của âm nhạc truyền thống.

Ông từng nói: "Mục đích chính của tôi trong việc giảng dạy là không chỉ đơn thuần đem đến kiến thức mà quan trọng hơn là gieo chất men yêu âm nhạc dân tộc Việt Nam vào lòng học trò Việt Nam và nhiều nước khác nhau. Tôi cũng cố gắng làm cho các em ngày càng thêm tự hào về nền âm nhạc truyền thống của đất nước mình mà xoá bỏ đi những tự ti mặc cảm vốn mang nặng trong lòng sinh viên các nước Á, Phi".

Cho nên ông về ở hẳn Việt Nam từ năm 2006, trở thành người truyền lửa cần mẫn, đầy tâm huyết. Bao năm trên xứ người, ông thèm lắm một miếng bánh xèo thơm ngậy, thèm lắm một tô bún bò Huế cay xè, thèm tô phở bò đậm đà, thèm được nói tiếng Việt và hít hà khí trời ở mảnh đất chín rồng. Có chiếc lá nào vươn đón mặt trời rồi không trở về gốc cội? Nên khi định cư hẳn ở Việt Nam, được cấp ngôi nhà đàng hoàng để ông có thể đem cả công trình nghiên cứu đồ sộ về âm nhạc và văn hóa nhằm phụng hiến quê hương, sao không trào nước mắt?

Trở về Việt Nam, ông trở thành nhà nghiên cứu và cố vấn quan trọng góp phần khôi phục, bảo tồn và vinh danh các loại hình nghệ thuật truyền thống. Năm 1976, lần đầu ghé cố hương, ông thu âm giọng ca của ca nương Quách Thị Hồ và nghiên cứu ca trù, khiến ca trù được nhìn nhận xứng đáng. Ông cũng là người có nhiều đóng góp lớn trong việc vận động UNESCO nhìn nhận giá trị của Nhã nhạc Cung đình Huế và công nhận là Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại năm 2003. Ông cũng đã thuyết phục được hoàn toàn hội đồng của UNESCO để vinh danh "Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên" và mới đây nhất là đờn ca tài tử Nam bộ.

Cố GS.TS Trần Văn Khê.
Cố GS.TS Trần Văn Khê.

Đời làm báo, tôi có nhiều lần hạnh ngộ ông. Đó là những buổi nói chuyện chuyên đề về âm nhạc và văn hóa Việt Nam tại ngôi nhà trên đường Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Nói về bất cứ lĩnh vực nào dù là đờn ca tài tử, cải lương hay Nhã nhạc Cung đình Huế, ca trù, nhạc Phật... ông cũng mê hút người nghe bởi cách nói chuyện sang sảng, uyên bác, tinh thông và nhớ đến từng thời điểm cụ thể của sự kiện. Ông nói đến đâu minh họa âm nhạc bằng miệng ngay tới đó, hóm hỉnh và sinh động...

Những buổi nói chuyện ở khắp mọi miền, chiếc xe lăn người đẩy, kẻ nâng để đưa ông lên xuống những bậc thang vất vả. Công lao truyền lửa của ông đã đào tạo nên bao thế hệ học trò xuất sắc. Đó là con trai trưởng Trần Quang Hải, con gái Trần Thị Thủy Ngọc, là nghệ  sĩ  đàn tranh Hải Phượng, ca nương Phạm Thị Huệ, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền...

Ngày đưa tang ông, trời đổ mưa. Sắc trời ủ rũ như những gương mặt người đưa tiễn ông về nơi yên nghỉ cuối cùng. Nhưng trong di ảnh, gương mặt hồn hậu của ông vẫn đọng lại nét cười. Ừ thì, thân thể này đã về quê mẹ. Tro cốt về dưới bàn thờ gia tiên để mãi mãi những người yêu mến ông đến đây chiêm bái và hòa đàn, ông vẫn có mặt ở đó mà vui vầy, rưng rưng trong cầm ca, nhịp phách. Một Thư viện Trần Văn Khê ngay tại tư gia, một bảo tàng lưu trữ hàng loạt tư liệu, những công trình nghiên cứu mà ông dành cả cuộc đời sẽ được thành lập. Người đã theo cánh nhạc đi xa trong buổi rạng sáng mưa đêm còn rả rích, nhưng ngọn lửa với tình yêu dân tộc mà ông truyền lại chẳng thể tắt ngấm đi mà càng bùng lên mạnh mẽ, rực rỡ...

GS.TS Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Năm 1941, ông đậu Tú tài rồi lên Hà Nội học trường Thuốc. Năm 1949, ông sang Pháp học Trường Chính trị Paris. Năm 1954, ông ghi danh vào học Khoa Âm nhạc Đại học Sorbonne. Năm 1958, ông trở thành Tiến sĩ người Việt Nam đầu tiên của Khoa Âm nhạc trường Đại học Sorbonne. Ông nguyên là Giám đốc Nghiên cứu, Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học của nước Cộng hòa Pháp; Thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO; 10 năm liền là Chủ tịch Ban tuyển chọn Quốc tế của Diễn đàn âm nhạc Châu Á;  Viện sĩ Thông tấn Viện hàn lâm Khoa học, Văn Chương và Nghệ thuật Châu Âu và đảm nhiệm hàng loạt chức danh quan trọng khác. Vì sự đóng góp lớn lao, ông được tặng nhiều giải thưởng, huân chương, danh hiệu cao quý của Việt Nam và thế giới. GS. TS Trần Văn Khê đã trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện nhân dân Gia Định (TP Hồ Chí Minh) vào rạng sáng ngày 24/6/2015.
Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.