Nhà văn Tô Hoài với dòng tiểu thuyết viết về Hà Nội

Ba tiểu thuyết viết về Hà Nội, gồm "Kẻ cướp bến Bỏi", "Mẹ mìn bố mìn" và "Những ngõ phố", vừa được tái bản nhân dịp kỷ niệm 105 năm sinh nhật của nhà văn Tô Hoài, giúp công chúng hôm nay hình dung rõ nét những sự đổi thay trên mảnh đất Thăng Long nhiều trầm tích văn hóa và lịch sử.

Tiểu thuyết Tô Hoài có giá trị độc đáo không chỉ dành riêng cho công chúng văn chương, mà mang lại nhiều gợi mở thú vị cho những ai yêu thích khám phá những biến thiên xã hội theo thời gian.

Lý do, tiểu thuyết Tô Hoài không phải sản phẩm hoàn toàn từ trí tưởng tượng và cũng không phải chuyện vay mượn, như chính ông quan niệm: "Cho dù có khéo viết, khéo chắp nhặt cũng chỉ che mắt bạn đọc được một lúc, rồi khơ khung ra ngay. Dù anh có đi tảo được cốt truyện, dù anh có mượn cái hình thù nhân vật của người ta đem về làm của riêng, lắp vào xà, mộng của anh, thì đấy cũng chỉ là đem về cái hình, cái xác. Bởi vì, hồn người hồn chuyện, mượn thế nào được. Không thể chỉ bôi môi đánh phấn mà làm cho người này giống người kia".

Nhà văn Tô Hoài với dòng tiểu thuyết viết về Hà Nội -1
Bộ ba tiểu thuyết của nhà văn Tô Hoài vừa được tái bản.

Sau mấy bài thơ tập ghép vần và truyện ngắn đầu tay "Bụi ô tô" được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan (1902-1987) tư vấn cắt bỏ bớt phân nửa, nhà văn Tô Hoài bước vào nghề cầm bút chuyên nghiệp. Lấy bối cảnh bãi Cơm Thi ven sông Tô Lịch gắn bó tuổi thơ, nhà văn Tô Hoài viết truyện đồng thoại "Dế mèn phiêu lưu ký" theo tâm trạng "không cần phải nghĩ mãi mới ra mà nó đã nằm sẵn giữa say mê của mình", xuất bản năm 1920 và lập tức thành danh.

Cuộc đời 94 năm trên dương gian của nhà văn Tô Hoài là một hành trình viết không ngừng nghỉ. Trong số hơn 100 tác phẩm với nhiều thể loại mà ông gửi lại cho công chúng, tiểu thuyết là di sản quan trọng. Vì nhà văn Tô Hoài trọng thực tế và trọng chi tiết, nên thông qua tiểu thuyết của ông có thể nhận diện được một bức tranh đời sống sinh động đã từng tồn tại, đã từng vận hành như thế nào.

Tiểu thuyết của Tô Hoài, ngoài hai cuốn "Miền Tây" và "Ba người khác", thì hầu hết đều viết về Hà Nội. Riêng cái làng dệt vùng ngoại ô Hà Nội nay thuộc địa phận Nghĩa Đô - Cầu Giấy, nơi nhà văn Tô Hoài trưởng thành, đã được ông tái hiện không gian bộ ba tiểu thuyết "Quê người" xuất bản năm 1941, "Giăng thề" xuất bản năm 1943 và "Mười năm" xuất bản năm 1957.

Trong cuốn "Nhà văn hiện đại", nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đánh giá: "Tiểu thuyết của Tô Hoài cũng thuộc loại tả chân như của Nguyễn Công Hoan, nhưng Nguyễn Công Hoan ngả về hoạt kê, còn Tô Hoài có khuynh hướng xã hội. Cái tính chất xã hội trong tiểu thuyết của Tô Hoài hơi thiên về một mặt, là trong hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của ông, ông đều tả hạng dân quê nghèo nàn, mà hạng người này cũng chỉ là những người ở một miền, một vùng - vùng Nghĩa Đô, quê hương tác giả".

Nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh của nhà văn Tô Hoài (27/9/1920), NXB Kim Đồng in lại ba tiểu thuyết khác viết về Hà Nội, gồm "Kẻ cướp bến Bỏi", "Mẹ mìn bố mìn" và "Những ngõ phố". Dù ba tác phẩm này không phải nổi bật trong dòng chảy tiểu thuyết Tô Hoài, nhưng vẫn thể hiện được phong cách sáng tác mà ông mong muốn: "Dù cuộc đời nhân vật trong tác phẩm và cuộc đời người viết có khác hẳn, có trái ngược nhau, thì người đọc vẫn có thể tìm được nguyên nhân những liên quan cơ hữu giữa tác phẩm và thực tế đời sống của người viết".

Tiểu thuyết "Kẻ cướp bến Bỏi" là câu chuyện diễn ra giữa thế kỉ 19, tác phẩm xoay quanh cuộc khởi nghĩa Cao Bá Quát cùng bi kịch của những môn sinh trung nghĩa. Nhà văn Tô Hoài khắc họa khí phách anh hùng và khát vọng hạnh phúc của người dân trước triều đình phong kiến mục nát. Đây là cuốn tiểu thuyết đậm chất lịch sử, nơi văn chương gặp gỡ sử liệu, làm sống dậy một giai đoạn bi tráng trong quá khứ.

Tiểu thuyết "Mẹ mìn bố mìn" phác họa Hà Nội giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20. Nhà văn Tô Hoài tỉ mỉ miêu tả những đổi thay của làng quê và đô thị Bắc Bộ trong thời Pháp thuộc, chân dung những phận đời nghèo khó, bị đẩy vào vòng xoáy mưu sinh, phải vươn lên để sinh tồn bằng mọi cách... Dù nhiều cay đắng nhưng ở họ vẫn toát lên sự chân chất, mộc mạc và cả hy vọng vào một ngày mai tốt đẹp hơn.

Còn tiểu thuyết "Những ngõ phố" là một Hà Nội khoảng thời gian sau khi tiếp quản Thủ đô năm 1954. Nhà văn Tô Hoài ngụp lặn cùng người dân thành thị với bao ngổn ngang, vừa lam lũ vừa đầy khát vọng. Những phận đời lầm lũi nơi ngõ nhỏ trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ, cho khát khao đổi thay để hòa nhập vào thời cuộc mới.

Giới thiệu cùng lúc cả ba tiểu thuyết "Kẻ cướp bến Bỏi", "Mẹ mìn bố mìn"  và "Những ngõ phố", Nhà xuất bản Kim Đồng xem đây là lời tri ân di sản đồ sộ của nhà văn Tô Hoài, đồng thời cũng là nỗ lực để đưa văn chương Tô Hoài đến gần hơn với độc giả hôm nay, những bạn đọc đã gắn bó với ông từ những trang sách thời thơ ấu.

Đọc tiểu thuyết Tô Hoài không chỉ là một hành trình khám phá những vẻ đẹp chộn rộn trong lòng phố phường Hà Nội, mà còn thấy được bút lực của một nhà văn chuyên nghiệp có thái độ nghề nghiệp rõ ràng: "Hình thức truyện dài, đối với người viết, không thể là một hình thức mang máng sẵn có từ kỷ niệm đọc sách, cũng không thể tồn cổ máy móc, cũng không thể mới một cách xa lạ. Cũng không thể là công việc lặp lại của chính anh trong những cái mà anh đã viết hôm qua rồi".

Và chính nhà văn Tô Hoài khẳng định: "Tôi đã chống lại thói quen làm việc tài tử. Tôi bắt tôi phải rành mạch với tôi. Tôi tự nhủ: Viết văn là một việc khó khăn, việc khó khăn chứ không phải việc khác thường. Sao không làm như người bình thường làm việc? Sao lại tự huyễn hoặc, lại nuôi chiều cái dễ dãi mệt mỏi? Vậy, phải làm việc bình thường".

Nhà văn Tô Hoài với dòng tiểu thuyết viết về Hà Nội -0
Chân dung nhà văn Tô Hoài qua nét vẽ của họa sĩ Nguyễn Đình Phúc.

Nhìn vào số lượng tác phẩm đáng kính nể của nhà văn Tô Hoài, thật phong phú về đề tài phản ánh và thật đa dạng về đối tượng tiếp nhận. Thế nhưng, tiểu thuyết vẫn là thể loại được nhà văn Tô Hoài đầu tư nhiều công sức nhất.

Trong "Sổ tay viết văn", nhà văn Tô Hoài chia sẻ: "Viết xong một lần, bắt đầu chữa. Dù đương viết có sửa từng đoạn, tôi cũng chữa lại hết. Trước nhất, trở lại một nguyên tắc gốc của xây dựng truyện: muốn biểu hiện ý định gì, bằng đối đáp, bằng tả, bằng nghĩ, đều nhất thiết do nhân vật.

Tôi lấy việc chữa nhân vật tư tưởng, tình cảm và hoạt động của nhân vật làm gốc. Sửa chữa nhân vật, thông qua nhân vật, dọn lại toàn bộ truyện. Đếm lại xem truyện có bao nhiêu nhân vật, nắm lại tư tưởng, tình tiết, mặt mũi, hành động, sự tiếp xúc tương lai mỗi nhân vật thế nào. Tách riêng từng người một, xét tỉ mỉ mọi hoạt động mỗi người từ đầu tới cuối truyện.

Nhân vật chính hay phụ vài ba nét, hễ có tên, đều lần lượt duyệt lại như vậy. Làm như thế, sẽ nổi rõ ý chính, ý phụ và tự nhiên những đoạn chắp vá, độn ghém bám vào nhân vật sẽ trơ trẽn rời ra. Những chỗ dông dài, tình cảm và vấn đề nhân vật không cần thiết, sẽ thừa. Chữa lối ấy là cách làm có lý lẽ chắc chắn, không phải chỉ bằng cảm tưởng đại khái".

Rất có ý thức gìn giữ các dữ liệu, nhà văn Tô Hoài viết hồi ký đầu tiên "Cỏ dại" khi mới 24 tuổi. Cho nên, khi triển khai sự quan sát và sự thấu hiểu của mình trở thành tiểu thuyết, nhà văn Tô Hoài giống như một từ điển sống về các sự kiện, các nhân vật từng hiện diện ở Hà Nội, từng tác động đến Hà Nội.

Bên cạnh những tình huống khó quên và những cấu trúc hợp lý, tiểu thuyết Tô Hoài còn lôi cuốn độc giả bởi ngôn ngữ chắt lọc tỉ mỉ, như ông thổ lộ: "Càng ngày tôi càng thấy quần chúng, nhất là những người lao động, có một lối nói rất sáng tạo. Nói chuyện với một nhà tri thức, một nhà Nho, một người sang trọng mà lịch sự chẳng hạn, chỉ thấy được một thứ lời lẽ kiểu cách rập khuôn và lấy ở sách vở ra, vì đời sống và xã giao của họ khoanh trong một mẫu mực kích thước ngàn xưa rồi. Nhưng nói chuyện với người lao động (lao động theo nghĩa rất rộng rãi) thì khác hẳn. Bởi trong làm ăn vật lộn, ngôn ngữ của họ cũng sinh động, biến đổi theo công việc luôn luôn sáng tạo. Họ nói rất hay.

Thử tìm, ta sẽ thấy ở một xóm, một xưởng, một đại đội dân công, thế nào cũng có những người nói nhiều tiếng "sáng tạo", mới, mà dù cho ta là một người viết văn, chuyên luyện chữ, cũng không bao giờ có thể nghĩ ra được những chữ đầy hình ảnh ấy. Tôi thường chăm chép chữ và tiếng nói vào một sổ riêng… Ngôn ngữ Việt Nam thật dai sức và điêu luyện. Sống chen giữa những dân tộc to lớn, bị đô hộ hàng nghìn năm, nhưng tiếng Việt Nam vẫn có sức kháng cự mãnh liệt trước những đe dọa đồng hóa và vẫn phát triển, trong sáng, phong phú sắc thái dân tộc".

Tuy Hòa

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.