Nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành trở lại văn đàn với "Giấc mơ sông Thương"

Trong những lần về hội khóa ở Trường Viết văn Nguyễn Du, sau ồn ào thăm hỏi, những ngậm ngùi thương nuối ngày xanh là nhắc đến những bạn bè viết hay, viết tốt nhưng vì nhiều nhẽ đã “bỏ cuộc chơi văn chương”. Trong những cái tên thường được nhắc đến đó, có nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành.

Nguyễn Phúc Lộc Thành học khóa 5 Trường Viết văn Nguyễn Du, trước chúng tôi 2 khóa. Thường trong giờ giảng, các thầy hay lấy sáng tác của các nhà văn khóa trước làm dẫn chứng cho bài giảng của mình. Một lần thầy Hoàng Ngọc Hiến rưng rưng: “Để làm nên thương hiệu Trường Viết văn Nguyễn Du chính là những học trò, những nhà văn nổi tiếng của trường chứ không phải thầy cô giáo giảng dạy. Trong những cái tên nhà văn đó, có Nguyễn Phúc Lộc Thành”.

Vậy khi ấy Nguyễn Phúc Lộc Thành đã có tác phẩm gì mà được thầy Hiến đánh giá cao như vậy? Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tay có tên “Cõi nhân gian”. Bây giờ, sau hơn 20 năm đọc lại “Cõi nhân gian” của Nguyễn Phúc Lộc Thành, tôi vẫn thấy nhiều cái mới trong cách viết và tầm tư tưởng của cuốn tiểu thuyết này. Viết về thế giới tội phạm, viết về những thân phận người vì nhiều lý do, trên những nẻo đường mưu sinh họ đã sa chân vào những vũng bùn lầy lội của cõi nhân gian.

Một cõi nhân gian hỗn tạp, tốt xấu, trắng đen, cao cả và đê hèn lẫn lộn. Sống trong vũng bùn hỗn tạp đó, đôi lúc họ đã làm điều xấu, điều ác, nhưng ẩn sâu trong mỗi con người họ là khát khao hướng thiện, khát khao được làm người lương thiện. Chính nhờ những khát khao hướng thiện đó mà mỗi nhân vật khi đi hết cuốn sách, họ đã từng bước một lột xác, từng bước một tự hoàn thiện bản thân mình, tự gột rửa bùn nhơ trên thân thể để tập tễnh đi vào đời, dù nhọc nhằn khổ ải nhưng được sống dưới ánh mặt trời, được làm Người vẫn là ân sủng lớn mà đấng tối cao ban cho.

Chính vì thế, đọc “Cõi nhân gian”, người đọc luôn tin rằng: “Nhân chi sơ, tính bản thiện” chứ không phải “tính bản ác”. Đây chính là ý nghĩa triết học của cuốn tiểu thuyết và có lẽ đây cũng là triết lý sống của nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành.

Một cuốn tiểu thuyết đầu tay của một tác giả trẻ mà được những nhà văn, nhà lý luận phê bình tên tuổi như Hoàng Ngọc Hiến, Tạ Duy Anh, Nguyễn Hữu Sơn, Ngô Thị Kim Cúc… viết bài giới thiệu thì quả cũng là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc và đáng được nhắc tới.

Vậy mà sau cuốn tiểu thuyết “Cõi nhân gian” (1994) và tập truyện ngắn “Táo vàng tục lụy” (1996), Nguyễn Phúc Lộc Thành lặng lẽ rời khỏi văn đàn không một lời từ biệt.

Thực ra thì ý định tạm xa văn chương để đi làm kinh doanh đã được Nguyễn Phúc Lộc Thành nung nấu từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, ngày anh đang học năm thứ 3 khoá 5 Trường Viết văn Nguyễn Du. “Cái gì người ta đã viết rồi thì mình không nên viết nữa nếu biết rằng mình sẽ viết không hay hơn họ; cái gì người khác đã làm thì mình không nên làm nữa nếu biết rằng mình làm sẽ không hơn người đi trước” – có lần anh tâm sự thế.

Chính vì ý nghĩ đó nên anh không làm dịch vụ taxi chở người mà khai sinh ra mô hình taxi tải đầu tiên tại Việt Nam. Từ đó văn đàn vắng đi một nhà văn có thương hiệu và thương trường có thêm một “gã tân binh”. 

Bạn bè viết văn ngậm ngùi tiếc nuối vì thực chất cũng không mấy ai biết chủ hãng Taxi tải Thành Hưng là Nguyễn Phúc Lộc Thành, ngay cả sau này khi đã là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Thành Hưng ăn nên làm ra, đã tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, đã có hàng ngàn chuyến xe ngược lên các vùng sâu, vùng xa của đất nước mỗi độ Tết đến xuân về để làm từ thiện thì cũng chẳng mấy ai thấy anh xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Có một điều hết sức bất ngờ nữa là Tập đoàn Thành Hưng trở thành cổ đông lớn thứ hai sau Nhà nước, sở hữu 30% cổ phần thương hiệu Vang Đà Lạt, là chủ sở hữu nhà máy sản xuất Vang Đà Lạt tại Lâm Đồng, trực tiếp quản lý phân phối Vang Đà Lạt trên toàn bộ thị trường miền Bắc. Thành Hưng đã góp công lớn trong việc Vang Đà Lạt vinh dự được Chính phủ Việt Nam dùng chiêu đãi 21 vị nguyên thủ quốc gia trong dịp Hội nghị thượng đỉnh APEC 2006 diễn ra tại Hà Nội. Làm chủ sở hữu cả một nhà máy rượu nhưng Nguyễn Phúc Lộc Thành lại là người không uống được rượu, mỗi bận ngồi với bạn bè, anh chỉ “Nước canh nhấp một chén khà”.

Nếu ngồi với người lạ, bị ép quá anh sẽ tếu táo: “Không dám uống rượu vì… vợ không cho uống. Tôi được mệnh danh là sợ vợ có thương hiệu”. Ai cũng biết anh đùa, nhưng đằng sau những thành công của anh như ngày hôm nay, không thể không kể đến vai trò của người vợ - người đàn bà đẹp luôn đồng hành cùng anh trên mọi chặng đường đời.

*

Đang yên đang lành, cũng bất ngờ như khi rời khỏi văn chương, tháng 8 năm 2018, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Thành Hưng Nguyễn Phúc Lộc Thành viết đơn xin từ nhiệm chức danh Tổng Giám đốc và tháng 9 năm 2018, các thành viên của Hội đồng Quản trị Công ty đã nhất trí và phê chuẩn đơn xin từ nhiệm để anh thôi giữ chức Tổng Giám đốc.

Từ nhiệm để trở về với văn chương, sự trở về này chắc chắn sẽ khó khăn chẳng kém gì việc ngày xưa anh dấn thân vào thương trường. Vì khi quay lại với văn chương, không phải anh quay lại với thể loại văn xuôi quen thuộc và đã làm nên thương hiệu Nguyễn Phúc Lộc Thành. Anh làm thơ mà lại là thơ lục bát.

Có lẽ người Việt mình ít nhiều trong đời ai cũng có làm một vài ba câu vần vè trên sáu dưới tám? Thơ lục bát dễ làm, khó hay, nó như một cái bẫy để trói chặt những ai dám đi vào nó. Khi đã đi vào sẽ bị nó trói về niêm, luật, thanh, vần… cực kỳ nghiêm ngặt. Làm thơ lục bát là phải tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Từ đó nếu không cao tay ấn sẽ bị nó dẫn dụ buộc đi theo vần vè.

Bìa tập thơ mới của nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành.
Bìa tập thơ mới của nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành.

Để cho hiệp vần, đồng thanh lắm lúc nhà thơ phải dùng đến những chữ “độn”, khốn nỗi đối với thơ thì kỵ nhất lại là những chữ thừa, chữ độn. Bị bó buộc về niêm luật, độn chữ, độn câu và cuối cùng bài thơ trở thành bài vè ngang phè, vượt thoát ra khỏi ý tưởng chủ quan ban đầu của nhà thơ. Cũng chính vì phải tuân thủ chặt chẽ niêm luật, nên những câu thơ lục bát đã ma quái dẫn dụ tác giả đi tới đạo văn trong vô thức, từ đạo ý đến đạo câu…

Không phải Nguyễn Phúc Lộc Thành không biết rằng thơ lục bát  dễ làm nhưng khó hay. Biết thế nhưng đề tài, cảm xúc… và rất nhiều điều khó nói khác nó đã buộc anh phải chọn thể thơ lục bát để thể hiện, để thử thách và để vượt thoát lên trên cái bẫy mà thơ lục bát luôn giăng ra để “hạ nhục” nhà thơ. Và để lách qua những cái bẫy đó, điều đầu tiên nhà thơ phải tạo ra được một giọng thơ riêng biệt, và thao tác nghề đầu tiên là cách ngắt nhịp, xuống dòng làm lạ hóa các câu thơ: “Hoàng hôn/ non nõn chờ trăng/ Bờ em khem khép/ mắt vằng vặc đêm” (Giấc mơ sông Thương 2).

Hay trường liên tưởng, so sánh lạ: “Mi trời/ cong ướt mái chùa/ Nhụy em ngân ngấn/ Xuân vừa khô rơi” (Giấc mơ sông Thương 6). Đảo từ, đảo câu, chuyển nghĩa của từ để tạo ra những từ đa nghĩa, tạo ra nhiều trường liên tưởng cho người đọc: “Con về/ nhặt hôn hoàng rơi/ Xuống ngày còm cõi/ da mồi tóc sương” (Giấc mơ sông Thương 7). “Ngác ngơ/ cỏ lác hai hàng/ Mộ bia đỏ mắt/ chang chang lưng đồi” (Giấc mơ sông Thương 27)… và còn nhiều, còn nhiều thủ pháp nữa mà Nguyễn Phúc Lộc Thành phải sử dụng trong khi sáng tác để tự làm mới mình và làm mới thơ lục bát.

Và khi đọc trọn 108 bài thơ lục bát trong tập “Giấc mơ sông Thương”, người đọc dễ dàng nhận ra đây là một tập thơ lục bát cách tân, không hề lẫn vào giữa trùng trùng rừng thơ lục bát nhưng cũng không tạo ra một sự cách tân lố bịch, khó chịu như của không ít nhà thơ cũng muốn làm mới thơ nhưng do kém tài đã làm hỏng thơ, phá thơ và giết thơ.

Điều đặc biệt nữa ở Nguyễn Phúc Lộc Thành là cho dù sáng tác ở thể loại nào thì vẫn mang đậm dấu ấn của riêng tác giả không thể lẫn vào ai được, trong những dấu ấn đó, có dấu ấn “sex” thăng hoa trong sáng tác. Nếu ở trong văn xuôi, anh có những câu văn đẹp tả người đàn bà khỏa thân như: “Tôi thấy nàng trong tư thế cội nguồn, không có chiếc lá nho nào che đậy”.

“Nàng khép cặp đùi trần, nhễ nhại, kéo nó về tư thế hài nhi”. Hay: “Bên góc giường, nàng ở trần trong tư thế hài nhi” (Cõi nhân gian) thì trong “Giấc mơ sông Thương” có những câu, những cặp câu đẹp đến thánh thiện: “Em như đọt lụa trinh ngần/ một trời da thịt/ vũ vần bến Sim” (Giấc mơ sông Thương 21). “Em tôi/ trút áo thiên thần/ Dòng Thương/ sóng sánh/ trinh ngần/ thịt da…” (Giấc mơ sông Thương 6).

Bây giờ thì một mình anh đóng cả ba vai rồi, thơ, văn xuôi và doanh nhân thành đạt. Không biết một ngày nào đó anh còn cho bạn bè và độc giả ngạc nhiên trên một lĩnh vực nào đó nữa không, biết đâu đấy, vì ở con người anh luôn tỏa ra nhiệt huyết của cái mới và sự sáng tạo.

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.