Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “Tướng về hưu” chuyển sang làm “gốm-thơ”

Văn học đương đại Việt Nam hơn ba chục năm qua, không thể không nói tới nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn đưa tên tuổi ông lên hàng các tác gia kiệt xuất của văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XX. Trong đó, các truyện "Tướng về hưu", "Không có vua"... được coi là dấu mốc mở đầu cho thời kỳ văn học đổi mới.

Hôm mới rồi, mang mấy đồng nhuận bút còm của một tờ báo đến thăm "Tướng về hưu" Nguyễn Huy Thiệp, tôi phải đi lòng vòng qua gần chục con ngõ quanh co của một ngôi làng cũ nằm ở xóm Cò, làng Khương Hạ, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ngôi nhà của ông cũng phong phanh, chân chất, giản dị như chủ nhân của nó. Nguyễn Huy Thiệp vốn dễ gần và cũng dễ lạ. Gần là bởi cái giọng nói thào thào, cũ cũ và dáng điệu chất phác của ông. Lạ là bởi cái tư duy sắc sảo, phá cách, không chấp nhận sự bằng phẳng, rỗng mòn, cũ kỹ trong văn chương của ông.

Trông vẻ bên ngoài, Nguyễn Huy Thiệp cứ thù là, thù lù như một ông phó thường dân quê kệch, có thể sẵn sàng lẫn vào cái đám đông bụi bặm, cần lao nơi phố thị không mấy sủi tăm. Nhưng bên trong con người văn nhân lão thực của ông, tôi thấy thấp thoáng một triết nhân lạnh lùng với những suy tư khá độc đáo và vượt lên trên mọi kiến giải nhân sinh đã định hình.

Vậy là cái gần gũi cứ trộn lẫn với cái xa lạ, cái dễ hiểu trộn lẫn với sự khó hiểu, cái chừng mực trộn lẫn với sự thông tuệ vượt lên mọi khuôn phép...phải chăng đã làm nên một phong thái, một phong văn Nguyễn Huy Thiệp.

Thấy khách đến chơi, biết tôi là người làm thơ, Nguyễn Huy Thiệp thân mật giới thiệu với tôi mấy chiếc bình gốm sứ mới, khá đẹp trên có vẽ tranh và đề thơ của một số nhà thơ nổi tiếng đời Đường (Trung Quốc) và Việt Nam. Tôi khá bất ngờ khi biết đây là những chiếc bình gốm sứ do tự tay ông làm, tự vẽ tranh, đề thơ.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp bên các đĩa "Gốm-thơ" của ông.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp bên các đĩa "Gốm-thơ" của ông.

Tiếp theo, nhà văn hồ hởi kéo tôi vào phía buồng trong, chỉ tay bảo: "Vào đây, tôi cho ông xem đống đĩa gốm sứ này, hay lắm". Rồi ông lấy từ ngăn tủ xuống, lôi từ trong gầm giường ra cả đống sản phẩm đĩa gốm sứ do chính tay ông vẽ cảnh, đề thơ và đích thân ông mò sang tận lò gốm bên Bát Tràng giám sát việc sản xuất.

Không chỉ như các cụ xưa nói "nghề chơi cũng lắm công phu" mà ở đây, phải nói rằng "Nghề thơ cũng phải lao tâm, khổ tứ trăm bề". Chỉ vì tình yêu hội họa và say mê thơ (loại thơ hay đích thực chứ không phải thơ rởm!), Nguyễn Huy Thiệp đã bỏ công sức, tiền của ra làm tới vài trăm đĩa gốm sứ, trên có tranh do ông vẽ và có thơ của các nhà thơ nổi tiếng xưa nay. Ngoài ra, ông còn vẽ tranh và đề thơ trên nhiều loại bình gốm sứ bày trong nhà.Với phong độ thế này, nếu ở nước ngoài, Nguyễn Huy Thiệp hẳn đã giàu to vì cái ý tưởng hào hoa chơi thơ, chơi tranh trên đĩa gốm sứ.

Lần lượt, Nguyễn Huy Thiệp bày la liệt ra sàn nhà một loạt đĩa sứ, chỉ cho tôi xem đây là đĩa sứ đề thơ Bạch Cư Dị, đây là đĩa sứ đề thơ Lý Bạch, thơ Mạnh Hạo Nhiên, còn đây là đĩa sứ đề thơ của Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của vua Lê Thánh Tông... và cả đĩa đề thơ Nguyễn Huy Thiệp trong vở kịch "Vong Bướm" của ông: "Ta đã phó thác mình cho quỷ dữ...để đổi lại ta chỉ đòi tỉnh thức".

Giới thiệu về các thi hào đời Đường, ông đọc cho tôi nghe từng nguyên tác chữ Hán và lời dịch sang tiếng Việt. Ông vẽ trên đĩa gốm sứ một số hình ảnh minh họa tác phẩm "Sông Đông êm đềm" của văn hào Nga Sôlôkhốp và tranh của danh họa Van Goc.

Đặc biệt, có khá nhiều chân dung tự họa của Nguyễn Huy Thiệp vẽ trên gốm và tất cả các bìa sách của ông được nước ngoài in, ông đều vẽ lại trên đĩa sứ. Tôi thích chiếc đĩa in bản minh họa đầu tiên của họa sĩ Đỗ Phấn cho truyện ngắn "Tướng về hưu" của Nguyễn Huy Thiệp năm 1987. Khi tôi hỏi nhà văn có ý định gắn vài trăm cái đĩa sứ này lên bốn bức tường trong phòng viết của mình như một tay chơi hào hoa xứ Bắc hay không?

Nguyễn Huy Thiệp lắc đầu, ông cười: "Để bán dần cho anh nào thích sưu tầm". Tôi nói vui: "Bác không phải chờ lâu đâu, chắc sẽ có một nhà sưu tập giàu có, mê văn Nguyễn Huy Thiệp, sẵn sàng đổi một phần gia sản của mình lấy số đĩa quý giá này, vì nó có dấu ấn sáng tạo độc nhất vô nhị của nhà văn, và sau một thế kỷ nữa nó sẽ trở nên vô giá".

Về nghề văn, ngoài các tác phẩm nổi tiếng làm nên tên tuổi lừng danh của mình trước đây, dường như dạo này, Nguyễn Huy Thiệp không viết được gì thêm. Trao đổi với tôi về việc này, ông trải lòng: "Dạo này mình cũng chẳng thiết viết gì nữa! Viết văn đến cái độ nào đó thì cũng phải biết dừng lại, phải biết tiết chế chứ, mình có phải vô địch thiên hạ đâu?

Viết nhiều, bọn trẻ nó cũng coi thường và cũng phải nhường đất cho bọn trẻ họ viết chứ. Cũng như hồi mình mới xuất hiện, lúc nào mình cũng thấy ông Nguyễn Đình Thi, ông Nguyễn Khải...mình cũng chán chứ. Bây giờ lại tới lượt Nguyễn Huy Thiệp cứ lù lù ra đấy, bọn trẻ nó cũng chẳng ưa đâu. Do vậy, mình rút dần vào vô minh...".

Rồi Nguyễn Huy Thiệp chậm rãi nói: "Trong quy luật nhận thức, bóng tối và ánh sáng đối lập cũng giống như bờ Mê với bến Giác, giống như đêm với ngày. Ranh giới phân biệt ở đây chính là lòng từ bi hỷ xả, nhân ái bao dung đối lập với sự oán thù nhỏ nhen. Chính điều này làm nên phép lạ. Sống giữa ban ngày mà trái tim trĩu nặng thì vẫn là chìm trong đêm tối.

Văn học - với chức năng đặc biệt của nó - là nghề nghiệp duy nhất chỉ nói về tính nhân đạo, sự bao dung và lòng chẳng nỡ. Có người nói hay, người nói không hay, thậm chí có người nói ngọng. Khi không còn thơ, không còn văn học, khi các nhà văn không được tôn vinh thì đấy là dấu hiệu cho thấy xã hội đang suy thoái, nhân tính mất đi…".

Ngồi trò chuyện với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tại nhà ông, tôi đặt câu hỏi: "Ngoài các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã vang danh khắp trong, ngoài nước, độc giả và dư luận hôm nay hình như vẫn còn đợi nhà văn ở mảng tiểu thuyết, ngoài cuốn "Tuổi hai mươi yêu dấu", ông còn cuốn nào không?". Nguyễn Huy Thiệp chậm rãi: "Tiểu thuyết ư! Hiện vẫn còn cuốn "Bên rìa nước" đang xin giấy phép. Cuốn tiểu thuyết viết theo kiểu võ hiệp này tôi viết trong 10 năm…".

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cho tôi biết, tác phẩm "Bên rìa nước" là những chuyện hiệp nghĩa, khôi hài và hoang đường chép bên rìa nước kinh thành Thăng Long. Tiểu thuyết chưởng này gồm 16 chương. "Trước kia tôi cũng viết một cuốn sách theo phong cách tiểu thuyết chưởng là "Võ lâm ngoại sử" nhưng cuốn ấy chỉ là bản nháp thôi, chưa phải là tác phẩm hoàn chỉnh như cuốn "Bên rìa nước" lần này. Đây cũng là cuốn sách kén độc giả. Tôi chủ trương in cũng được, không in cũng được, cũng tốt...", ông Thiệp lắc đầu nói.

Tôi lật qua ít trang bản thảo cuốn "Bên rìa nước", thấy có nhiều đoạn viết như thơ, bèn hỏi nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp bảo: "Đây không phải là thơ bình thường. Đây là thơ kệ, đây là tổng hợp của nhiều loại thơ cổ của Việt Nam. Ngày xưa, tôi cho rằng người xưa coi thơ là mẹ của mọi thể loại. Nó là ngôn ngữ tối thượng, cao quý và cao nhất.

Và, người xưa mới đầu học làm thơ 2 chữ: "Vào làng/Xin thịt/Ra làng/Xin xôi" rồi thơ 3 chữ: "Đi bên sông/ Về bên sông/ Trồng cây cải/ Bơi đò ngang/ Một đò ngang/ Hai ngang đò", tiếp đến thể thơ 4 chữ và 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, 9 chữ. Và thơ lục bát Việt Nam nó giống như thể thơ Hai-ku của Nhật Bản. Nó là quốc hồn, quốc túy. Và, lục bát nó giống như chính trị, giống như giáo dục, giống như... mọi thứ nọ, kia. Nó có Bắc tông và Nam tông.

Bắc tông là học dần dần theo hệ tiệm ngộ, học theo tuổi, theo trình độ học thức, nên nó có lớp 1, lớp 2 và các lớp cao hơn, rồi đại học, từ từ mà lên. Còn Nam tông là học từ kiếp trước, tức là nó đốn ngộ, giác ngộ trong một phút sát-na thôi mà thông hiểu hết. Nên tôi thích thơ Đồng Đức Bốn là vì thế. Bốn có được học hành gì đâu, lớp sáu không xong, làm thơ là làm trong đầu, tay run lẩy bẩy có viết nên hồn đâu mà tại sao nó có những câu thơ kỳ lạ thế. Nó là thằng đốn ngộ. Nó có học thầy nào đâu. Thầy của nó là cuộc đời. Nên nó có những câu thơ xuất thần theo kiểu:

Chăn trâu đốt lửa trên đồng,
Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều.
Mải mê đuổi một con diều,
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro

(Chăn trâu đốt lửa)

Hoặc đậm chất thi sĩ kiểu đốn ngộ: 

Cái đêm em ở với chồng,
Để ai hóa đá bên sông đợi đò.
Cái đêm hôm ấy gió mùa,
Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan.

Cái đêm lành lạnh gió mùa,
Em trong chăn ấm có đùa với ai…
Ngang trời tiếng vạc mảnh mai,
Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi.
Mảnh nào em để cho tôi,
Khi buồn chỉ đặt ngang môi làm kèn….

Ngồi nói chuyện văn thơ với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mới biết ông rất quý trọng cố nhà thơ Đồng Đức Bốn. Có thể tình bạn giữa hai ông vừa mang hơi thở mộc mạc bùn đất chốn chân quê vừa mang tính ngang tàng, bất cần của những văn tài một thời "bất đắc chí". Phải chăng vì thế, nó khiến cho cái tình giữa hai người văn lãng tử trở nên sâu đậm, gắn bó!?

Điều đáng nói, tuy chê thơ của nhiều người "vô học và tự phát", nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại rất mê thơ Đồng Đức Bốn, cũng thuộc vào dạng "thơ tự phát và ít học". Có điều gì mâu thuẫn trong cách "bình luận thơ" của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chăng?

Tôi cho không có gì là mâu thuẫn trong việc ông Thiệp chê thơ người này và khen thơ người khác, bởi vì sự khen hay chê đều nằm ngoài thơ và chỉ có thời gian mới là thước đo song phẳng nhất đối với sự tồn tại, còn lại đích thực của thi ca.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.