Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Thơ là mẹ của mọi thể loại văn học?

Trước khi qua đời, những tháng ngày cuối cùng trên giường bệnh, hẳn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng thấy ấm lòng khi bạn bè văn chương và những người quý mến ông đã đến thăm nom và động viên nhà văn cố vượt qua bệnh tật hiểm nghèo và số phận không mấy dễ chịu của một người viết.

Dường như không chịu bó tay trước số phận, trong những ngày bệnh trọng, ông mê mải vẽ và làm thơ như muốn chia sẻ những tâm sự cuối cùng của mình về cuộc đời, về người thân, về văn chương, về bạn bè.

nhà van nguy%3fn huy thi%3fp (bên ph%3fi) và nguy%3fn vi%3ft chi%3fn t%3fi khoa vi%3ft van-báo chí ð%3fi h%3fc van hóa copy.jpg -0
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (bên phải) và tác giả bài viết ở Khoa Viết văn - Báo chí, Trường Đại học Văn hóa.

Khoảng chục năm trước đây, có thời gian nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và tôi được mời dạy thỉnh giảng cho sinh viên năm thứ ba tại Khoa Viết văn - Báo chí, Trường Đại học Văn hóa. Tôi cũng có đôi lần được ngồi đàm đạo với ông về thi ca. Tôi còn nhớ mãi lần trò chuyện cuối cùng với Nguyễn Huy Thiệp trước khi ông gặp bạo bệnh. Hôm đó, tôi mang mấy đồng nhuận bút còm của một tờ báo đến thăm “Tướng về hưu”. Tôi phải đi lòng vòng qua gần chục con ngõ quanh co của một ngôi làng cũ nằm ở xóm cò, làng Khương Hạ, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Ngôi nhà của ông cũng phong phanh, chân chất, giản dị, như chủ nhân của nó. Nguyễn Huy Thiệp vốn dễ gần và cũng dễ lạ. Gần là bởi cái giọng nói thào thào, cũ cũ và dáng điệu chất phác của ông. Lạ là bởi cái tư duy sắc sảo, phá cách, đổi mới và không chấp nhận sự bằng phẳng, rỗng mòn, cũ kỹ trong văn chương của ông.

Trông vẻ bên ngoài, Nguyễn Huy Thiệp cứ thù là, thù lù như một ông già phó thường dân quê kệch, có thể sẵn sàng lẫn vào cái đám đông bụi bặm, cần lao nơi phố thị không mấy sủi tăm. Nhưng bên trong con người văn nhân lão thực của ông, tôi thấy thấp thoáng một triết nhân lạnh lùng với những suy tư khá độc đáo và vượt lên trên mọi kiến giải nhân sinh đã định hình. Vậy là cái gần gũi cứ trộn lẫn với cái xa lạ, cái dễ hiểu trộn lẫn với sự khó hiểu, cái chừng mực trộn lẫn với sự thông tuệ vượt lên mọi khuôn phép... phải chăng đã làm nên một phong thái, một phong văn Nguyễn Huy Thiệp.

“Năm tháng cuối đời rút dần vào vô minh"

Mấy năm cuối đời, ngoài các tác phẩm nổi tiếng làm nên tên tuổi lừng danh của mình trước đây, dường như Nguyễn Huy Thiệp không viết được gì thêm. Trao đổi với tôi về việc này, ông trải lòng: “Dạo này mình cũng chẳng thiết viết gì nữa! Viết văn đến cái độ nào đó thì cũng phải biết thôi, biết dừng lại, phải biết tiết chế chứ, mình có phải vô địch thiên hạ đâu? Viết nhiều, bọn trẻ nó cũng coi thường và cũng phải nhường đất cho bọn trẻ họ viết chứ. Cũng như hồi mình mới xuất hiện, lúc nào mình cũng thấy ông Nguyễn Đình Thi, ông Nguyễn Khải... mình cũng chán chứ. Bây giờ lại tới lượt Nguyễn Huy Thiệp cứ lù lù ra đấy, bọn trẻ nó cũng chẳng ưa đâu. Do vậy, mình rút dần vào vô minh...”.

Tôi đặt câu hỏi: “Độc giả và dư luận hình như vẫn còn đợi nhà văn ở mảng tiểu thuyết, ngoài cuốn “Tuổi hai mươi”, ông còn cuốn nào không?”. Nguyễn Huy Thiệp chậm rãi: “Tiểu thuyết ư! hiện vẫn còn cuốn “Bên rìa nước” bên công ty Nhã Nam đang xin giấy phép. Cuốn tiểu thuyết viết theo kiểu võ hiệp này tôi viết trong 10 năm. “Bên rìa nước” là những chuyện hiệp nghĩa, khôi hài và hoang đường chép bên rìa nước kinh thành. Tiểu thuyết chưởng này gồm 16 chương. Trước kia tôi viết cuốn “Võ lâm ngoại sử” chỉ là bản nháp thôi, chưa phải là tác phẩm hoàn chỉnh như cuốn này. Đây cũng là cuốn sách kén độc giả. Tôi chủ trương in cũng được, không in cũng được, cũng tốt...”.

Tôi lật qua ít trang bản thảo cuốn “Bên rìa nước”, thấy có nhiều đoạn viết như thơ, bèn hỏi nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp bảo: “Đây không phải là thơ bình thường. Đây là thơ kệ, đây là tổng hợp của nhiều loại thơ cổ của Việt Nam. Các ông làm thơ thời “công-nông-binh” hiện nay cũng có cái hay của nó.

Nhưng ngày xưa, tôi cho rằng, người xưa coi thơ là mẹ của mọi thể loại. Nó là ngôn ngữ tối thượng, cao quý và cao nhất. Và, người xưa mới đầu học làm thơ 2 chữ: “Vào làng/ Xin thịt/ Ra làng/ Xin xôi” rồi thơ 3 chữ: “Đi bên sông/ Về bên sông/ Trồng cây cải/ Bơi đò ngang/ Một đò ngang/ Hai ngang đò”, tiếp đến thể thơ 4 chữ và 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, 9 chữ.

Và thơ lục bát Việt Nam nó giống như thể thơ Hai-kư của Nhật Bản. Nó là quốc hồn, quốc túy. Và, lục bát nó giống như chính trị, giống như giáo dục, giống như... mọi thứ nọ, kia. Nó có Bắc tông và Nam tông. Bắc tông là học dần dần theo hệ tiệm ngộ, học theo tuổi, theo trình độ học thức, nên nó có lớp 1, lớp 2 và các lớp cao hơn, rồi đại học, từ từ mà lên. Còn Nam tông là học từ kiếp trước, tức là nó đốn ngộ, giác ngộ trong một phút sát-na thôi mà thông hiểu hết”.

Trước khi trở thành “Vua truyện ngắn”, Nguyễn Huy Thiệp cũng từng làm thơ nhưng không thành. Ngồi nói chuyện văn thơ với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mới biết ông rất quý trọng cố nhà thơ Đồng Đức Bốn. Có thể tình bạn giữa hai ông vừa mang hơi thở mộc mạc bùn đất chốn chân quê vừa mang tính ngang tàng, bất cần của những văn tài một thời “bất đắc chí”. Phải chăng vì thế, nó khiến cho cái tình giữa hai người văn lãng tử trở nên sâu đậm, gắn bó.

“Người “không thơ” khác nào một kẻ mồ côi!?”

Điều đáng nói, tuy đã có bài viết công khai chê thơ của nhiều người, nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại thích thơ Đồng Đức Bốn mà như ông nhận xét cũng thuộc vào dạng “thơ tự phát và ít học”. Ông thích những câu thơ xuất thần kiểu đốn ngộ của Đồng Đức Bốn và nhận định: “Nó có được học hành gì đâu, lớp sáu không xong, làm thơ là làm trong đầu, tay run lẩy bẩy có viết nên hồn đâu mà tại sao nó có những câu thơ kỳ lạ thế. Nó là thằng đốn ngộ. Nó có học thầy nào đâu. Thầy của nó là cuộc đời. Nên tôi thích thơ Đồng Đức Bốn là vì nó có những câu thơ xuất thần kiểu đốn ngộ: “Cái đêm em ở với chồng/ Để ai hóa đá bên sông đợi đò/ Cái đêm hôm ấy gió mùa/ Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan/… Cái đêm lành lạnh gió mùa/ Em trong chăn ấm có đùa với ai/... Ngang trời tiếng vạc mảnh mai/ Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi/ Mảnh nào em để cho tôi/ Khi buồn chỉ đặt ngang môi làm kèn….”.

Có điều gì mâu thuẫn trong cách “bình luận thơ” của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chăng? Tôi cho không có gì là mâu thuẫn trong việc ông Thiệp chê thơ người này và khen thơ người khác, bởi vì sự khen hay chê đều nằm ngoài thơ và chỉ có thời gian mới là thước đo sòng phẳng nhất đối với sự tồn tại, còn lại đích thực của thi ca.

Khi viết lời tựa cho tập thơ của Đồng Đức Bốn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã nhận xét như sau: “Tôi đã có lúc cho thơ là mẹ của mọi thể loại văn học, thậm chí là mẹ của mọi hình thức sáng tạo (của chính trị, của toán, của kiến trúc, của nấu ăn, của hội họa, của “mốt”…). Người không “thơ” khác nào một kẻ mồ côi: “Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường”. Con người vô ơn (con người bao giờ cũng vô ơn) thường rất bạc với mẹ. Có ai ghi nhớ việc mẹ sinh hạ, mẹ bú mớm, mẹ giặt giũ, mẹ đính cho chiếc khuy trên áo… Thơ thường không bao giờ là một sự nghiệp. Mẹ không bao giờ là một sự nghiệp của con. Thơ là một thể loại văn học cổ điển nhất, xưa nhất. Thơ hình như khó nhất trong các thể loại văn học”.

Nhận định về người làm thơ, Nguyễn Huy Thiệp đăm chiêu cho rằng: “Có mấy loại người làm thơ? Loại một chắc chắn là các thiên thần. Họ vụt đến, vụt đi và để lại những bài thơ, những câu thơ thiên thần. “Nhưng chưa chi chiều đã tắt”. Trong đời mỗi người cũng có những giai đoạn, những khoảnh khắc thiên thần. Đấy là những người thơ trẻ trung, những trai tân. Vậy sao không phải gái tân? Gái tân thì thơ làm gì? Đừng lầm với vật hiến tế!”, Nguyễn Huy Thiệp tự hỏi và tự trả lời.

Rồi ông cho rằng: “Khi ấy những bài thơ, những câu thơ hiện lên như những bổng lộc của thần linh. Loại hai là thơ của những người khởi nghĩa, của lửa, của những nhà cách mạng xã hội! “Bay thẳng tới muôn trùng Tiêu Hán / Phá vòng vây bạn với Kim Ô / Giang sơn khách diệc tri hồ” (Nguyễn Hữu Cầu). Khởi nghĩa với cả tình yêu, với đàn bà, với cái ác, cái tẻ nhạt, cái tầm thường, cái dung tục… với khá nhiều thứ - để biểu dương cái chí: “thi ngôn chí” (Tú Xương là thi ngôn chí: chí thanh cao, Nguyễn Bính cũng là thi ngôn chí: chí tình)”.

Nguyễn Huy Thiệp tiếp tục nhận xét: “Ngoài thơ loại một, loại hai là gì? Là loại ba: là phản thơ, là vi khuẩn, là mầm thơ, là “những tìm tòi” - đa phần viển vông, suy đồi, điếm đàng, đểu, say rượu, đa dâm, hạ lưu.Vượt lên trên là triết học, vượt lên thơ là triết học. Tư tưởng là thơ “bay lên”. Vậy Đồng Đức Bốn là ai? Đồng Đức Bốn là một nhà thơ loại hai theo cách phân loại như trên. Tiếc thay, anh không phải thiên thần, anh chỉ là một người khởi nghĩa. Anh là một tên nửa quê nửa tỉnh. Anh là một người có những tình cảm ngẩn ngơ, ngây ngất, dại khờ. Đồng Đức Bốn là một kẻ chí tình”, Nguyễn Huy Thiệp kết luận.

Và, phải chăng cho đến hôm nay, có thể ở thế giới bên kia, cố nhà thơ Đồng Đức Bốn đang ngồi hầu rượu nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để nghe “Vua truyện ngắn” đàm đạo về thơ và những nhà thơ ở hạ giới.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.