Nhà văn Lan Khai và người đồng hành “mực mài nước mắt”

Nhà văn Lan Khai (1906-1945) là nhân vật nổi tiếng với những trang viết về thiên nhiên miền núi và cuộc sống lao động. Nhà văn Lan Khai đã trải qua những ngày rất vất vả để cầm bút như tên cuốn sách “Lầm than” của ông. Tuy nhiên, bù đắp cho túng bấn vật chất, Lan Khai có được người vợ hiền cùng ông “mực mài nước mắt” giữa nhân gian.

Nhà văn Lan Khai tên thật Nguyễn Đình Khải, sinh ra và lớn lên ở thôn Vĩnh Lộc, Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Được gia đình gửi xuống Hà Nội ăn học, sau khi tốt nghiệp Trường Bưởi (Trường Chu Văn An ngày nay), chàng thư sinh Nguyễn Đình Khải thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và ôm ấp giấc mộng “sẽ là một nhà tiểu thuyết”. Và thực tế, với bút danh Lan Khai, ông đã để lại cho độc giả nhiều tiểu thuyết có giá trị như “Nước hồ Gươm”, “Cô Dung”, “Lầm than”, “Mực mài nước mắt”, “Mưa xuân”…

Nhà phê bình Hải Triều đặc biệt đánh giá cao tác phẩm “Lầm than” của Lan Khai ngay khi cuốn sách vừa ra đời: “Một tác phẩm đem lại cho tôi một vài ý nghĩ về văn chương giữa một bầu không khí phảng phất mùi thuốc súng… Đọc xong quyển “Lầm than”, tôi thấy tác giả của nó mạnh dạn tiến lên trên con đường bênh vực cho giai cấp cần lao, con đường của chủ nghĩa xã hội…”.

Đối với bạn đọc hôm nay, bức chân dung nhà văn Lan Khai đã bị phủ bụi bởi thời gian nghiệt ngã. Người ta chỉ có thể mường tượng về ông qua tác phẩm. Tuy nhiên, trong một hồi ức, người con trai thứ hai của nhà văn Lan Khai là ông Nguyễn Lan Phương đã cho biết: “Sinh thời, cha tôi là người trung thực, ngay thẳng, cởi mở, chân tình với mọi người, luôn chịu phần thua thiệt hơn; không bao giờ giành giật lợi lộc với người khác. Ở ông còn một thông lệ đẹp nữa trong tính cách sinh hoạt thường nhật, ấy là mỗi khi nhà văn viết xong một bài báo hay một cuốn sách được in, xuất bản, dù cho là nhuận bút lúc ấy nhiều hay ít, nhận được tiền là ông chia ra làm mấy khoản: Trước tiên là khoản dành mua sách, sau đó là khoản đưa cho vợ con, gia đình sinh sống hàng ngày (khoản này lớn hơn cả) còn một phần nhỏ để chi tiêu riêng cho bản thân, phòng khi gặp bằng hữu nào khó khăn thì giúp đỡ. Thông lệ này, cha tôi thực hiện rất nghiêm túc”.

Nhà văn Lan Khai (1906-1945).
Nhà văn Lan Khai (1906-1945).

Còn Thiếu tướng Công an Hoàng Mai cung cấp thêm: “Sau khi viết cuốn “Lầm than”, Lan Khai bị thực dân Pháp bỏ tù. Năm 1943, Lan Khai được tổ chức Đảng mời tham gia vào Hội Văn hóa Cứu quốc. Ông mất ở Lũng Cò, Sơn Dương, Tuyên Quang vào cuối mùa thu năm 1945, do một tên côn đồ ám sát”.

Rõ ràng, hành trình 39 năm trên dương gian của nhà văn Lan Khai phải nếm trải không ít bi kịch. Thế nhưng, ông lại có một gia đình khá êm ấm và hạnh phúc. Trước năm 1945 chưa có quy ước về chế độ một vợ một chồng, nên nhà văn Lan Khai cũng có hai người vợ. Người vợ đầu là bà Nguyễn Thị Duyên (1909-1982) được nhà văn Lan Khai hỏi cưới vào năm 1925. Còn người vợ hai là bà Hà Thị Minh Kim (1909-1999) được nhà văn Lan Khai hỏi cưới năm 1927. Hai bà vợ có xuất thân và tính cách khác nhau, nhưng đều hết lòng thương yêu và tôn thờ người chồng văn sĩ.

Bà Nguyễn Thị Duyên là một phụ nữ thuần phác nông thôn, sinh cho nhà văn Lan Khai một người con trai là Nguyễn Lan Hương vào năm 1927. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nguyễn Lan Hương xung phong ra mặt trận và hy sinh vào năm 1948. Còn bà Hà Thị Minh Kim sinh cho nhà văn Lan Khai ba người con Nguyễn Lan Phương vào năm 1928, Nguyễn Lan Hoa vào năm 1933 và Nguyễn Lan Diệp vào năm 1936. Nhà văn Lan Khai cư xử với hai bà vợ như thế nào? Ông Nguyễn Lan Phương chia sẻ: “Cha tôi cũng quan tâm chu đáo đến các mẹ tôi, mỗi lần đi xa về, ông chẳng ngại ngần mua sắm cho hai bà vợ từ cái khăn, cái yếm đẹp như nhau”.

Tại Tuyên Quang, gia đình nhà văn Lan Khai sống trong căn nhà lá năm gian hai trái ở xóm Gốc Nhội, gần đình Xuân Lôi. Năm 1934, gia đình nhà văn Lan Khai dọn xuống Hà Nội để thuận tiện cho ông theo đuổi sự nghiệp sáng tác. Nhờ được học hành, bà Hà Thị Minh Kim trở thành một “trợ bút” cho nhà văn Lan Khai. Trong hồi ký có tên “Chuyện lầm than của chúng tôi” được viết năm 1989, bà Hà Thị Minh Kim tường thuật khá chi tiết: “Ngày mới về Hà Nội, gia đình tôi thuê một căn gác ở phố nhỏ trục ngang đường Phùng Hưng bây giờ, sau lại chuyển về thuê một căn nhà ở số 26 phố Châu Long tiện lợi hơn. Nhà tôi được ông Vũ Đình Long đến tận nơi mời anh vào làm ở tòa báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở số 93 phố Hàng Bông. Nơi gia đình tôi ở được các bạn văn của Lan Khai gọi là “vũng Lương Sơn Bạc”. Bởi nơi đây có sự hội ngộ thường xuyên của nhiều văn nghệ sĩ Bắc Hà, già như cụ Tản Đà, cụ Ngô Tất Tố, cụ Nguyễn Văn Tố, trẻ hơn có bác Nguyễn Công Hoan, anh Vũ Trọng Phụng, anh Nguyễn Tuân, chú Trần Huyền Trân, chú Nguyên Hồng và chú Ngọc Giao…”.

Không chỉ làm “trợ bút” cho chồng, bà Hà Thị Minh Kim chăm sóc nhà văn Lan Khai rất chu đáo, như lời con trai Nguyễn Lan Phương nhận xét: “Mẹ tôi là người rất chiều chồng. Mỗi lần cha tôi đi hát cô đầu cùng các bác các chú văn sĩ, mẹ tôi luôn để ý xem nom quần áo dày dép, ca ra vát và đầu tóc của cha cho đẹp đẽ”.

Tuy nhiên, bà Hà Thị Minh Kim cũng có cái đáo để riêng khi sống với người chồng mơ mộng. Biết nhà văn Lan Khai thích thú với sự thần tượng của độc giả nữ chốn đô hội dành cho mình, bà Hà Thị Minh Kim đã dùng tên Bella Nhung để viết thư khen ngợi tác phẩm “Hột mận” của chồng và xin được hân hạnh làm quen. Nhà văn Lan Khai rất sung sướng và khoe với đồng nghiệp Nguyễn Vỹ về cái duyên kỳ ngộ sắp có được.

Bà Hà Thị Minh Kim, người vợ thứ 2 của nhà văn Lan Khai (1909-1999).
Bà Hà Thị Minh Kim, người vợ thứ 2 của nhà văn Lan Khai (1909-1999).

Bella Nhung hẹn nhà văn Lan Khai vào 8 giờ tối thứ bảy ở hồ Trúc Bạch đoạn gần chùa Trấn Quốc. Nhà văn Nguyễn Vỹ trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” đã viết về sự trêu ghẹo của bà Hà Thị Minh Kim đối với chồng, như sau: “Dưới ánh điện lờ mờ, chàng đã phân biệt màu sáo bordeaux và tay nàng đang cầm quyển “Hột mận” như đã dặn kỹ trong thư. Chàng đi nhè nhẹ đến gần… Tuy chàng chưa thấy mặt, nhưng dưới ánh đèn lờ mờ, bóng nàng uyển chuyển thướt tha tuyệt đẹp. Chàng đến sát bên cạnh, nghĩ rằng nàng mắc cỡ, nên chàng đánh bạo đặt bàn tay dịu dàng trên vai nàng, và giọng nói run run cảm động: “Em Bella Nhung?”. Nàng quay lại. Lan Khai hoảng hốt, biến sắc mặt ngay, bỗng giận dữ hét lên: “Mợ đứng chờ ai đây?”. Nàng, chính là… vợ Lan Khai, mỉm cười ngạo nghễ: “Thưa ông, em chờ ông Lan Khai, tác giả “Hột mận” ạ!”. “Mợ đánh lừa tôi hả?”, Lan Khai giận run cả người lên, nghẹn miệng nói không được nữa. Chàng bỏ vợ đấy, đi thật nhanh ra đường Quán Thánh gọi xe về nhà. Chị Lan Khai mỉm cười đắc chí, đủng đỉnh theo sau…”.

Sau một thập niên bôn ba viết lách ở Hà Nội, đầu năm 1944, nhà văn Lan Khai đưa gia đình trở lại Tuyên Quang. Bà Hà Thị Minh Kim kể lại giai đoạn cuối đời của chồng mình: “Lan Khai dạy học, vẽ truyền thần, mở quán sách Lan Đình, tập trung vào chống đói. Chỉ vì trong quán sách Lan Đình có cất giấu mấy tờ Giải Phóng và Cứu Quốc, bất ngờ đêm 1/5/1944 bọn lính Nhật ập vào nhà tôi lục soát, đánh đập tôi và trói chặt Lan Khai đem hạ ngục ở đồn binh của chúng, đày đọa anh hơn 3 tháng trời. Tôi phải tìm cách hàng ngày đưa cơm và mật gấu vào trong trại. Vừa tra tấn vừa mua chuộc không được, lúc anh gần chết thì chúng mới lôi anh vứt ra đường, toàn thân thâm tím, áo quần rách nát, không lê nổi bước chân…”.

Cũng nhờ bà Hà Thị Minh Kim trân trọng và lưu giữ di sản của chồng, mà nhiều tác phẩm và tư liệu về Lan Khai đã được tái bản lại trong những năm gần đây, giúp công chúng nhận diện được một nhà văn thao thức với thời cuộc và lương tri.

Gia Quan

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.