Nhà văn Kim Lân "trở về" làng

Cuối cùng thì "Lão Hạc", tác giả của "Vợ nhặt", "Làng", "Con chó xấu xí"... sau bao thăng trầm giờ đã trở về mảnh đất chôn nhau cắt rốn để thong dong an tọa một giấc ngàn thu trong không gian trầm mặc cổ kính của đất Phù Lưu, Đông Ngàn.  

Làng Phù Lưu nơi những phiến đá xanh nhẵn thín mang chứa cả một trầm tích kho chuyện về phong tục tập quán ở làng. Nơi đây mảnh đất địa linh nhân kiệt của vùng Kinh Bắc, đã sản sinh ra những người con thành đạt nổi danh cả đường văn lẫn đường võ như Tổng Đốc Bắc Giang Hoàng Thụy Chi, nhạc sĩ Hồ Bắc, đạo diễn Nguyễn Đăng Bẩy, tướng Chu Duy Kính, Bộ trưởng Chu Tam Thức... và đặc biệt nhất là thi sĩ Hoàng Cầm với một gia tài thơ lộng lẫy, một nhà văn Kim Lân (1920 - 2007) viết ít nhưng chữ nào của ông cũng hàm chứa sức nặng hiện thực và tình đời, với cái nhìn thấu suốt xót xa về nhân tình thế thái.

"Trở về" với làng Phù Lưu nghĩa là nhà văn Kim Lân trở về nơi mình sinh ra, được về với tiên tổ, ông bà, với thầy u để viên thành trong cõi làng linh thiêng, để hòa mình vào mảnh đất quê nhà, với những gì thân thuộc nhất.

Chúng tôi có mặt tại lễ khánh thành nhà lưu niệm của cụ Kim Lân trong một ngày cuối tháng 7, làng Phù Lưu xứ Đông Ngàn, Từ Sơn, Bắc Ninh thắp nắng sau hai tuần mưa sùi sụt như tiết trời ngâu. Trong cái nắng thanh bình rực rỡ, chính quyền địa phương đã phối hợp với gia đình tổ chức buổi lễ giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Buổi lễ khánh thành diễn ra rất chi là "Kinh Bắc" khi có các liền chị liền anh nối nhau với những câu hát Quan họ da diết níu chân người.

Nhà lưu niệm của nhà văn Kim Lân tại khu Văn Chỉ, Hương Hiền Từ, làng Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Nhà lưu niệm của nhà văn Kim Lân tại khu Văn Chỉ, Hương Hiền Từ, làng Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đứng trước ngôi nhà chỉ vỏn vẹn 40m, được bàn tay khéo léo của những người con tài hoa của cụ Kim Lân thiết kế theo lớp lang chồng diêm, khiến cho ngồi nhà vừa hiện đại vừa cổ kính, vừa trầm mặc giản dị nhưng lại vừa  cao sang, gợi nhớ một câu chuyện gì đó thật xưa cũ, sâu lắng trong mênh mông bụi phủ thời gian.

Ở đó, ngay gian giữa, treo bức hoành phi khắc lên hai chữ "Như Đạm" (có ý nghĩa là "bình hòa", "dung dị"). Đó cũng chính là thông điệp giản dị về con người, cốt cách, tinh thần của cụ Kim Lân cho tất cả mỗi ai khi bước chân đến đây, hòa mình trong không gian này để  thăm cụ, trò chuyện trong thinh lặng với cụ, và cùng với cụ ngồi xuống bên chén trà sen thơm ngát để đàm đạo chuyện văn chương, chuyện đời, chuyện người.

Một nhà văn mà cả đời văn chỉ để lại ngót nghét độ mươi cái truyện ngắn, về những thân phận ở làng quê nghèo khó, bé mọn, thấp hèn... và để lại vai diễn nhớ đời "Lão Hạc" trong bộ phim "Làng Vũ Đại ngày ấy" (được chuyển thể từ một số tác phẩm của nhà văn Nam Cao), đã đủ để Kim Lân khắc họa chân dung của mình cho hậu thế nhớ về ông.

Nhà văn Kim Lân có biệt tài viết thành công về những câu chuyện xảy ra quanh mình, viết về những người liên quan, những thân phận mà cụ bắt gặp, chứng kiến, những mảnh đời một thời khốn khổ. Nhà thơ Phan Hoàng đã có nhận xét: "Có thể nói việc khắc hoạ thành công hình tượng người phụ nữ với những tính cách, số phận điển hình trong những hoàn cảnh điển hình chính là yếu tố quan trọng giúp nhà văn Kim Lân dựng nên những truyện ngắn đặc sắc.

Điều thú vị là trong số những hình tượng phụ nữ được ông xây dựng thành công với nguyên mẫu chủ yếu là người thân của mình. Trong truyện ngắn tiêu biểu nhất của Kim Lân là "Vợ nhặt" thì nhân vật bà cụ Tứ chính là hình ảnh của mẹ ông. Còn người vợ trong truyện cũng có nguyên mẫu chủ yếu là vợ ông, nhưng giống hoàn cảnh thôi, còn vợ ông ngoài đời được cưới xin đàng hoàng chứ không phải... vợ nhặt!".

Bước vào không gian này, chúng tôi có cảm giác như bước vào một nơi chốn nào đó vừa thiền tịnh, vừa nhung nhớ, vừa đủ cho nhiều cung bậc cảm xúc  rung lên với "Lão Hạc" khi nhìn thấy tận mắt những đồ vật gần gụi của cụ được bày biện một cách tinh tế, đẹp mắt, trang nhã. Đầu tiên là một góc thư phòng với chiếc bàn viết giản dị, trên đó bày những cuốn sách - tác phẩm của Kim Lân.

Trên chiếc bàn viết, những trang sách đang mở ra như thể đợi cụ Kim Lân, đang bước ra đâu đó sau hiên nhà. Những trang bản thảo viết tay đã ố vàng, đã mủn góc được các con giữ gìn cẩn thận nâng niu, để ai vào cũng có thể tận mắt ngắm bút tích của cụ. Chiếc tủ đựng những cuốn sách cụ Kim Lân yêu thích. Chính giữa gian nhà là bộ bàn ghế gỗ đặt lên đó bình trà để những khi cụ mỏi viết thì ngồi xuống chiêu một ngụm trà sen tĩnh tại, hay thi thoảng đón khách đàm đạo văn chương. Khu nhà cũng bày dăm bảy món đồ cổ cụ hay dùng khi xưa, và những vật dụng như bộ kính sáng đến hơn chục cái, bút viết, tủ đựng vài ba bộ quần áo, vài ba chiếc mũ...

Những đồ vật bé nhỏ đời thường kia đã khắc họa lên rõ nét một chân dung cụ Kim Lân giản dị khi cụ còn sống, và như gợi nhắc cho ta bóng dáng gần gụi của cụ còn lẩn khuất đâu đây trong chính không gian này...

Họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, trưởng nữ của cụ Kim Lân chia sẻ: "Cha tôi từng nói, thầy là nhà văn của làng quê, nên khi thầy ra đi, các con hãy đưa thầy về với làng, về cạnh u của các con, về với tổ tiên làng xóm và trở về với cội nguồn.

Một góc trong ngôi nhà lưu niệm của nhà văn Kim Lân.
Một góc trong ngôi nhà lưu niệm của nhà văn Kim Lân. 

Sau bao nhiêu năm tháng vật vã tìm mua đất, chọn địa điểm,  để dựng cho cha mình một ngôi nhà lưu niệm, không phải để tôn vinh cha mà đơn giản khi còn sống cha mẹ đã vất vả cực nhọc nhiều, nay các con thành đạt, dựng cho cha một nếp nhà nhỏ lưu giữ lại những kỷ vật của cha, để khi các con cháu muốn tìm về nguồn cội, tìm hiểu về các bậc tiên tổ của mình còn có một nơi chốn để nhớ. Và cuối cùng, giải pháp đưa cha mình trở về làng có lẽ là đúng nhất với tâm nguyện của cụ".

Điều tuyệt vời đáng trân trọng hơn nữa là gia đình vô cùng vinh dự và hạnh phúc khi được chính những người con của làng Phù Lưu, hiện đang giữ trọng trách việc làng, bàn bạc và cấp cho cụ Kim Lân một mảnh đất nhỏ nơi chốn linh thiêng của làng. Đó là mảnh đất thuộc khu Văn Chỉ, Hương Hiền Từ, của làng Phù Lưu, Đông Ngàn để đón một người con xuất sắc của làng được trở về.

Ngắm nhà của cụ Kim Lân trong không gian 40 mét vuông ở Phù Lưu lại gợi cho chúng ta nhớ tới ngôi nhà 40m ở Hạ Hồi, nơi cụ Kim Lân sống cho đến những năm tháng cuối đời... Ngôi nhà nhỏ ở Hạ Hồi giờ đã xóa hết dấu tích, xóa hết một đoạn đời dài mà nhà văn Kim Lân đã từng sống và viết, khi bán sang tên cho chủ mới.

Giờ đây, bóng dáng của không gian Hạ Hồi chỉ còn đọng lại trên bốn bức tường của căn nhà lưu niệm. Đó là vô số những bức ảnh đen trắng của cụ ghi lại một thời mà các bậc tao nhân mặc khách thường lui tới thăm nhau. Một thời những danh nhân văn hóa bốn phương trời tụ về đất Kinh Kỳ, mến mộ tài nhau mà tìm đến với nhau.

Lại cảm thán những năm tháng sau khi cụ Kim Lân mất, tìm một nơi chốn cho cụ cũng đã làm đau xao xác một mảnh đời vốn dĩ rất nhạy cảm với thân phận con người.

Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, người làng Phù Lưu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Ông xuất thân là một người thợ sơn của đất Phù Lưu, Đông Ngàn. Cái tên Kim Lân là bút danh của ông, bắt nguồn từ tích vở tuồng cổ "Sơn Hậu". Vở tuồng nói về một tình bạn đẹp đẽ cao quý của Đổng Kim Lân và Khương Lính Tá.

Yêu mến vở tuồng cổ, và các nhân vật trong đó, cộng với vốn văn chương có sẵn, ông đã lấy tên Kim Lân để bước vào ngôi đền văn chương. Kim Lân viết ít, ông trở thành nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm như "Vợ nhặt", "Làng", "Con chó xấu xí",… cùng vai diễn "Lão Hạc" trong phim "Làng Vũ Đại ngày ấy". Ông đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1-2001. Năm 2014, UBND TP Bắc Ninh quyết định lấy tên nhà văn Kim Lân đặt tên cho một con phố ở phường Kinh Bắc.

Như Bình

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.