Nhà văn Đoàn Ngọc Hà : Viết văn dưới bóng tre làng

Năm 1987, tôi từ Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chuyển ngành về Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh. Cuộc họp đầu tiên tôi được dự, có một anh hơn tôi khoảng 7 – 8 tuổi, người nhỏ nhắn, da trắng, vẻ thư sinh đến bắt tay rồi tặng tôi cuốn sách “Khảo sát văn hóa Liễu Đôi” của hai tác giả Nguyễn Tế Nhị và Bùi Văn Cường. Anh nói anh chính là Nguyễn Tế Nhị, một trong hai tác giả của cuốn sách. 

Đọc cuốn sách ấy, tôi bắt đầu có thiện cảm với các tác giả bởi những tư liệu quý, những kiến giải rất thuyết phục về một vùng quê có chiều dài lịch sử văn hóa. Gần một năm sau, tôi được bổ nhiệm làm Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ tỉnh,hằng ngày bắt đầu nhận bài vở của các hội viên và cộng tác viên gửi đến, trong số những bản thảo truyện ngắn nhận được, tôi rất chú ý đến truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Tế Nhị mà tác giả lấy bút danh Đoàn Ngọc Hà, tên của ba đứa con anh.

Ngày ấy, nhà văn Chu Văn làm Chủ tịch Hội kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ. Khi tôi biên tập xong bản thảo truyện ngắn ấy đưa lên cho nhà văn duyệt, ông đọc, tỏ ra thích thú, rút bút ký liền. Cuối năm ấy, tổng kết cuộc thi truyện ngắn và bút ký do Tạp chí Văn nghệ tổ chức, Đoàn Ngọc Hà được trao giải nhất cho truyện ngắn ấy (vì lý do tế nhị, Đoàn Ngọc Hà đề nghị tôi khi viết bài báo này không nên nói tên truyện ngắn ấy). Tự tin và phấn khích, Đoàn Ngọc Hà gửi ngay cái truyện đó lên báo Văn nghệ. Mấy tuần sau, Báo Văn nghệ lại cho đăng.

Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”. Báo Văn nghệ đăng truyện ngắn đầu tay của Đoàn Ngọc Hà phát hành được ít ngày thì cả chúng tôi và Ban Biên tập tòa soạn Báo Văn nghệ đều gặp chuyện rầy rà. Đoàn Ngọc Hà vốn là giáo viên dạy văn nhiều năm.

Nhà văn Đoàn Ngọc Hà.
Nhà văn Đoàn Ngọc Hà.

Vào cái thời điểm sáng tác truyện ngắn đầu tay ấy, Đoàn Ngọc Hà đã được rút về Văn phòng UBND huyện giữ chân cán bộ văn xã. Thì ra cái nhân vật trong truyện ngắn đầu tay của Đoàn Ngọc Hà có những chi tiết hao hao như anh cán bộ cấp trên của Đoàn Ngọc Hà. Nhà văn Chu Văn gọi tôi lên gặp và giao nhiệm vụ:

- Tình hình này chúng ta phải xắn tay cứu Đoàn Ngọc Hà thôi - Nhà văn Chu Văn nói - Thường trực Hội đã thống nhất cử Nam về huyện Thanh Liêm xem thế nào, cố gắng can thiệp đừng để họ cho Hà về hưu non!

Tôi ngồi trên chiếc xe máy “Cá vàng” cổ lỗ phóng về huyện Thanh Liêm. Hóa ra chuyện Đoàn Ngọc Hà chuẩn bị được “về nghỉ hưu sớm” là thật chứ không đùa. Tôi xin gặp Bí thư Huyện ủy làm việc. Tôi nói rằng, nếu Đoàn Ngọc Hà về nghỉ hưu sớm vì một lý do nào khác thì đó là quyền của huyện, nhưng nếu vì cái truyện ngắn của anh thì có gì đó chưa ổn. Bởi trong truyện ngắn ấy, Đoàn Ngọc Hà không nêu một tên người, tên địa danh ở huyện này.

Cổ nhân dạy “Văn chương tự cổ vô bằng cớ”. Nếu ai đó mà thấy trong truyện có những chi tiết giống mình thì hãy lấy đó làm bài học sửa mình, chứ sao lại tìm cách trả thù tác giả!? Đoàn Ngọc Hà sinh năm 1945, nghĩa là năm 1989 anh mới 44 tuổi. Về hưu tuổi ấy với một cử nhân tốt nghiệp Đại học Sư phạm là hơi phí. Ông Bí thư Huyện ủy lắng nghe, gật gật đầu có vẻ thụ lý. Cuối cùng ông hứa với tôi rằng, ông sẽ “thu xếp” việc này sao cho ổn thỏa.

Về cơ quan ít lâu, chúng tôi được Đoàn Ngọc Hà báo tin, anh không còn làm ở UBND huyện nữa mà đã trở về trường cũ. Ngôi trường phổ thông năng khiếu mà anh đã từng dạy nhiều năm.

Cứ ngỡ con chim bị bắn trượt sẽ phải sợ cành cong, nhưng không, ngay năm 1989 đó có cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ, Đoàn Ngọc Hà gửi dự thi một loạt truyện ngắn mà “cảm hứng chủ đạo” vẫn theo cái mạch như cái truyện ngắn đầu tay. Nhà Đoàn Ngọc Hà ở giữa ngôi làng cổ kính, đường lát gạch thất, những cái ngõ ngoằn ngoèo chạy qua những cái cổng gạch rêu phong, bên đường có rất nhiều cây cối, tre pheo.

Ngôi làng có tên là Đông Sấu, thuộc xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm. Đoàn Ngọc Hà thường kê chiếc bàn nhỏ ở góc sân, ngay dưới khóm tre già mà viết. Bởi ngồi như thế anh có thể quan sát và lắng nghe mọi chuyển động của làng quê trong thời kì cựa mình đổi mới. Nó đã rất khác biệt với làng quê thời Ngô Tất Tố viết “Việc làng”, “Tắt đèn”, Nam Cao viết “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Dì Hảo”...

Nó cũng không còn giống như nông thôn thời làm ăn tập thể như trong tiểu thuyết “Bão biển” của Chu Văn; “Cái sân gạch”, “Vụ lúa chiêm” của Đào Vũ; “Thời xa vắng” của Lê Lựu, trong các truyện ngắn của Nguyễn Kiên, Vũ Thị Thường… Nông thôn thời Đoàn Ngọc Hà cầm bút là nông thôn mà phương cách làm ăn tập thể đã phân rã.

Con người cá nhân đang dần dần có vị thế. Mỗi một cá nhân tự khẳng định khả năng trên thửa ruộng của chính mình. Sự cạnh tranh, ganh đua, kể cả ghen ghét đã xuất hiện. Có khi một con người với cung cách làm ăn năng động, sáng tạo mà giàu có, thời bao cấp thì bị coi là phạm pháp, bị lên án, nhưng sang thời đổi mới lại được cổ súy, ngợi ca.

Đoàn Ngọc Hà có mấy truyện ngắn viết theo lối tư duy như thế, “Bà chúa đồng điền” là một thí dụ. Tổng kết cuộc thi, thật bất ngờ, Báo Văn nghệ trao giải nhất cho Đoàn Ngọc Hà với chùm truyện ngắn: “Truyện cười làng Tam Tiếu”, “Bà chúa đồng điền”, “ Ở thôn Đông Tài”. Đó là năm 1989.

Đọc các truyện ngắn của Đoàn Ngọc Hà, thấy nông thôn đang chuyển động khi âm thầm, khi quyết liệt nhằm thoát ra khỏi tính o bế cát cứ cố hữu. Nông thôn đẹp, hồn nhiên, tươi ròng nhưng nông thôn cũng nhốn nháo, lắm chuyện tức cười, có khi cười ra nước mắt. Nông thôn giống như một người đàn bà giãy giụa, vật vã trong cơn đau đẻ với niềm hy vọng khát khao có một sinh linh khỏe khoắn, tươi mới ra đời.

Ngoài đề tài nông nghiệp – nông thôn, Đoàn Ngọc Hà còn một mảng sáng tác về giáo dục, lĩnh vực mà anh khá am tường. Anh thường viết về những điều tai nghe mắt thấy về những ông thầy. Sự tù hãm, bưng bít của “lâu đài người thầy” không ai dám động đến. Thực chất thì người thầy rất đẹp, nhưng cũng có khi oan khốc biết chừng nào, bởi cái nghề này càng đẹp, càng giỏi bao nhiêu thì càng bị ghen ghét, đố kỵ bấy nhiêu.

Các nhà văn tại lễ trao giải thưởng truyện ngắn của Báo Văn nghệ Việt Nam.
Các nhà văn tại lễ trao giải thưởng truyện ngắn của Báo Văn nghệ Việt Nam.

Trong các truyện ngắn của Đoàn Ngọc Hà có khá nhiều tấn bi - hài kịch về người thầy! Một nền giáo dục bị quá nhiều thiên kiến chi phối, kể cả những thiên kiến lạc hậu, ấu trĩ làm mai một nhiều ông thầy giỏi, làm hư hao nhân tài non trẻ trong những lứa học trò. Truyện ngắn “Thầy giáo văn chương” (đoạt giải nhì cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ, 2004) là tác phẩm điển hình của những ông thầy dạy văn giỏi bị chà đạp, cả về nhân phẩm và chuyên môn. Trong tác phẩm này, Đoàn Ngọc Hà còn đề cập đến vấn đề lãnh đạo giáo dục chỉ có người thực tài, thực giỏi (thầy của thầy) mới lãnh đạo được giáo dục đi lên được.

Đề tài giáo dục trong truyện ngắn Đoàn Ngọc Hà thường chỉ viết về môi trường giáo dục ở nông thôn. Bởi vậy, có khi đề tài nông thôn và đề tài giáo dục cứ đan cài vào nhau trong một truyện ngắn.

Tính đến tháng 10 năm 2016, Đoàn Ngọc Hà đã cho xuất bản tới 95 truyện ngắn. Một thành quả rất đáng chiêm ngưỡng!

Ngoài số lượng lớn về  truyện ngắn, Đoàn Ngọc Hà còn viết 3 cuốn tiểu thuyết: “Hoa hậu quê” (năm 1996) , “Đời nghệ sĩ” (năm 2005 ), “Thầy Đàn” (năm 2016). Tiểu thuyết “Hoa hậu quê” tác giả đặt vấn đề đưa trí thức về nông thôn như thế nào mới phát huy được khả năng. Anh tỏ ra nuối tiếc cái vẻ đẹp nông thôn thuần chất ngàn năm luôn bị thanh trừ, truy đuổi đến thảm hại và đau đớn.

Tiểu thuyết “Đời nghệ sĩ” nói về tư cách người nghệ sĩ, thực tài và bất tài, cao thượng và thấp hèn. Ở một tỉnh lẻ quá nhiều kẻ ngộ nhận, nhầm tưởng tài năng của mình, họ bài xích, vây hãm, tấn công một cách hèn hạ người tài. Trong tác phẩm còn đề cập vấn đề tự do sáng tác, mà anh cho rằng đó là  khâu quan trọng nhất của sáng tạo nghệ thuật. Gần đây nhất là tiểu thuyết “Thầy Đàn”.

Đoàn Ngọc Hà cho rằng đây là “tác phẩm cuối đời” của anh, là lời khuyến cáo cuối cùng về nghề dạy học. Cô đúc, khái quát cả một bức tranh xã hội về nghề dạy học đã ảnh hưởng đến toàn xã hội như thế nào? Những bi kịch đau đớn về người thầy và những học trò của thầy. Những vẻ đẹp chói lòa về nhân phẩm và những cái kệch cỡm của một thời. Làm thế nào để đào tạo nhân tài, dung dưỡng nhân tài cho phù hợp với nền giáo dục mới, hòa nhập với văn minh nhân loại?…

Văn của Đoàn Ngọc Hà thường ngắn gọn, khá nhiều câu cụt. Lối nói dí dỏm, hài hước, thấm chất dân gian. Nhiều phúng dụ và cách điệu khiến bạn đọc có cảm giác đôi chỗ hơi thổi phồng, phóng đại. Tôi nhận thấy lối văn như thế giúp Đoàn Ngọc Hà thành công về truyện ngắn hơn là tiểu thuyết.

Năm 2005, Đoàn Ngọc Hà nhận quyết định nghỉ hưu. Anh hãy còn trong Ban chấp hành Hội VHNT Hà Nam nên vẫn tiếp tục được giữ chức Tổng biên tập Tạp chí Sông Châu của Hội. Và đến nay, Đoàn Ngọc Hà vẫn được giữ cương vị ấy, dù anh đã bước sang tuổi 71.

Hà Nội, tháng 10 năm 2016

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.