Nhà văn Đào Thắng: Dòng sông và tiếng vọng lịch sử

Nhà văn Đào Thắng nhìn bên ngoài nhân hậu là vậy, nhưng trong tác phẩm, ông viết táo bạo, quyết liệt. Không ca tụng một cách hời hợt, viết thật với con người thật. “Con người sống thế nào, ứng xử ra sao trong chiến tranh thì tôi viết thế đó”, nhà văn Đào Thắng nhớ lại...

Mãi đến sau này tôi mới lý giải được vì sao nhà văn Đào Thắng có tình cảm đặc biệt với vùng đất xứ Nghệ và con người xứ Nghệ. Ông đã gắn bó với vùng đất này thời đất nước “máu và hoa”, khi còn là người lính pháo binh. Mãi sau này, khi đã trở thành nhà văn, Đào Thắng được xem là người có duyên với nhiều loại đề tài trong sáng tác, nhưng lúc nào nhà văn đau đáu với các đề tài thời chiến.

Ở ông, độc giả luôn thấy được những trang văn ngồn ngộn chất sống, sự trải nghiệm mà ở đó tác giả thực sự... am hiểu về nhân vật.

“Tôi là nhà văn mặc áo lính. Từ năm 1965 là lính thuộc Sư đoàn 330, sư đoàn miền Nam tập kết. Tôi cùng đồng đội trải qua nhiều cuộc hành quân gian khổ và trong thâm tâm tôi, lúc nào cũng hừng hực niềm đam mê sáng tác, háo hức đi để làm thơ, viết ký và cũng sẵn sàng đương đầu với cái chết. Rất nhiều đồng đội tôi đã hy sinh. Ký ức về cuộc chiến tranh vệ quốc đã ngấm vào tác phẩm. Tinh thần, cảm xúc nó chất chứa, dồn nén vào tác phẩm của tôi”, ông trải lòng như một “tự thuật”.

Thật vậy, quá khứ trong tâm khảm của nhà văn Đào Thắng luôn luôn “cựa quậy”, gần như chỉ cần chờ có điều kiện là bật dậy.

Nhà văn Đào Thắng (phải) bên mộ 10 cô gái ở ngã ba Đồng Lộc.
Nhà văn Đào Thắng (phải) bên mộ 10 cô gái ở ngã ba Đồng Lộc.

Trước khi biết nhà văn Đào Thắng, tôi đã biết về tiểu thuyết “Nước mắt” của ông. Tiểu thuyết “Nước mắt” của nhà văn Đào Thắng nói về cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ ngay trên mảnh đất miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đó là cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên đất khu Bốn, nơi có những “mạch máu” và “hồng cầu đỏ chót”, tập trung sức người sức của chi viện  cho chiến trường miền Nam…

Điểm khác biệt với các tác phẩm văn học trước đó, ngòi bút của nhà văn Đào Thắng không ngại ngùng miêu tả cái sự thật trần trụi, gớm ghiếc mà chiến tranh dội lên đầu những người lính pháo. Và họ hy sinh, hy sinh hết lớp này đến lớp khác; có cả những Tiểu đoàn, Trung đoàn pháo bị xóa sổ…

Giữa những ngày mùa Thu cách mạng này, nhớ về những ngày giành độc lập, nhớ về cuộc chiến đấu bảo vệ non sông gấm vóc và thống nhất đất nước, không ai không cảm động nếu đã đọc những trang văn của ông.

Nhà văn Đào Thắng nhìn bên ngoài nhân hậu là vậy, nhưng trong tác phẩm, ông viết táo bạo, quyết liệt. Không ca tụng một cách hời hợt, viết thật với con người thật. “Con người sống thế nào, ứng xử ra sao trong chiến tranh thì tôi viết thế đó”, nhà văn Đào Thắng nhớ lại. Vâng, ở “Nước mắt” cũng có vài nhân vật chính, họ là những đồng đội tôi trong quân ngũ của ông. Bè bạn đã động viên ông để tên thật của họ. Chính họ là những nguyên mẫu sinh động nhất giúp chất lượng tác phẩm của nhà văn được nâng lên.

“Sau này tôi viết tiểu thuyết “Dòng sông Mía” cũng có nhiều nguyên mẫu thật, nhiều nhân vật là ông bà, mẹ, những người ảnh hưởng đến thời thơ ấu và thanh niên của tôi. Con sông Mía cũng là sông Châu Giang bây giờ”, ông tâm sự. Về chi tiết này, tôi nhớ nhà thơ Trần Mạnh Hảo từng có bài viết đầy “gai góc”: “Dòng sông Mía” của Đào Thắng hay tiếng nấc của sông Châu Giang” đăng trên Tạp chí Nhà văn, tháng 7/2005.

“Dòng sông Mía” được nhà văn Đào Thắng ấp ủ rất lâu, sinh thời người bạn tri kỷ của ông là nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đánh giá rất cao về tiểu thuyết này. Lúc đầu nhà văn Đào Thắng định đặt tên cho “đứa con” của mình là “Dòng sông vĩnh cửu”, sau đó bạn ông, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã đọc và nói với ông: “bối cảnh có mía, văn hóa mía, nên đặt là “Dòng sông Mía”. Tên tác phẩm ra đời từ sự gợi ý đó.

“Tôi ấp ủ đến hơn 10 năm vì phải chuyển nhiều nghề. Năm 1991 tôi viết lần một, tại Sầm Sơn - Thanh Hóa. Năm 1995 viết tiếp phần sau. Thật sự lúc sau viết không sung bằng trước. Khi viết tôi tự nhận thấy điều đó, tự đánh giá được, song tôi vẫn cố giữ được cái mạch của nó. Năm 2004 mới in được, 2005 được giải”, nhà văn cho biết.

Trong “Dòng sông Mía”, nguyên mẫu lớn nhất là nhân vật Khuê, nhà văn Đào Thắng nói rằng, đây là người thể hiện hình ảnh, ý nghĩ của ông và bè bạn. Một số nhân vật khác ông xây dựng thành công là thằng Lèng - cụt hai tay, một người sống bản năng, một đứa con sinh ra trong tăm tối, cuối cùng lại yêu chị gái mà không biết.

Nhà văn Đào Thắng đã xoáy sâu vào một nhân vật mê muội, không được học hành, sống bản năng, điều khiển bản thân bằng bản năng; đi sâu vào khai thác nội tâm những phận người hẩm hiu, sống mưu sinh trong dòng nước bẩn thỉu và trong họ luôn bị một sự khinh rẻ. Còn những cảnh được coi là nóng, trái ngược với những hình ảnh mưu sinh trầy trật kia là những dòng chữ man mát, giúp tác phẩm trở nên lung linh hơn, sinh động hơn. Những cuộc đời trôi trong rừng Mía, ở đó, bản năng con người họ được đánh thức. Rừng mía trở thành dòng sông của số phận.

“Là số phận những con người. Là tình nghĩa. Con người bên dòng sông Mía từng thương nhau, rồi tình thương đó bị phá bỏ, vốn văn hóa làng xã cũng bị phá dần. Người ta mang cái ác ở đâu về rồi gieo rắc nơi đây. Cái ác đó phá bỏ văn hóa làng xóm, tình yêu người yêu thiên nhiên. Điều này vẫn còn tồn tại dai dẳng đến bây giờ”, hớp ngụm nước chè, nhà văn Đào Thắng trăn trở.

Nói về công việc viết văn, đã có lần ông phát biểu, văn học hiện thực phải có nguyên mẫu, nếu không nguyên mẫu không thành tác phẩm hay. Vì điều đó sẽ trở thành hình tượng nghệ thuật. Rất nhiều những trải nghiệm ngoài đời là chất liệu quý cho các tác phẩm trở nên sinh động, bám sát hơi thở cuộc sống.

Nhà văn Đào Thắng kể rằng, cách đây mấy năm, khi nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười còn minh mẫn, ông và nhà thơ Hữu Thỉnh có đến thăm. Cụ Đỗ Mười nhắc Hội Nhà văn nên tổ chức viết về cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung, nếu không viết, hậu thế sẽ không nhớ tới các sự kiện lịch sử này.

Một tác phẩm của nhà văn Đào Thắng.
Một tác phẩm của nhà văn Đào Thắng.

Nhà văn Đào Thắng bảo chính ông đang trăn trở điều này. Trong cuốn tiểu thuyết “Dòng sông mía”, ông đã đưa một số chi tiết của cuộc chiến ác liệt tại Hà Giang vào trong tác phẩm của mình. Đó là chi tiết người mẹ tắm rửa cho thi hài của đứa con là liệt sĩ được đưa từ mặt trận trở về, thi thể của anh đã có dòi… Đó là chi tiết hoàn toàn có thật mà chính mắt nhà văn chứng kiến tại mặt trận Hà Giang…

Tôi là người may mắn từng được tháp tùng nhà văn Đào Thắng lặn lội suốt từ Truông Bồn (Nghệ An), qua Bến Thủy, Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) giữa những ngày nắng khốc liệt nhất của mùa hè năm 2014. Khi đó ông còn khỏe, không như bây giờ. Đến với những “địa chỉ đỏ” này, bàn chân ông như chậm hơn. Ông tỷ mẩn với từng ngọn cỏ. Tôi biết ông đã từng gắn bó với mảnh đất này những năm chiến tranh. Trong ông có một “dòng sông” luôn chảy... Dẫu vậy tôi vẫn bất ngờ khi năm 2018, đúng dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Chiến thắng Đồng Lộc (1968 – 2018), nhà văn Đào Thắng công bố “Vọng đất trời Đồng Lộc”, tiểu thuyết mới nhất của ông về đề tài chiến tranh.

Nhà văn Đào Thắng sinh năm 1946, vào bộ đội từ 9/1965 trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường Khu 4, Mặt trận đường 9, Quảng Trị, Trung Lào. Nhà văn Đào Thắng từng là Chánh Văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam, hiện làm việc ở Ban Chuyên đề Hội Nhà văn Việt Nam.

Tác phẩm của nhà văn Đào Thắng đã xuất bản: “Điểm cao thành phố” - tiểu thuyết năm 1982; “Nước mắt”, tiểu thuyết 1991; “Dòng sông mía”, tiểu thuyết 2004 (tái bản các năm 2004, 2005, 2006); “Đất xanh”, tiểu thuyết 2006; “Dọc miền Trung”, tiểu thuyết 2008; “Xứ sở Long”, tiểu thuyết 2010; “Tiếng vọng Đồng Lộc”, tiểu thuyết năm 2018.

Các giải thưởng nhà văn Đào Thắng đã được nhận: “Giải thưởng văn học đề tài Quốc phòng an ninh”, Hội Nhà văn Việt Nam 1991-1993; “Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng (1989-1994)” với tiểu thuyết “Nước mắt”; “Giải thưởng Điện ảnh 5 năm Bộ Quốc phòng” với các bộ phim: “Thị xã yên tĩnh”, năm 1989), “Nhịp sống mặt trận”, năm 1989, “Chào nhé Apsara”, năm 1987; “Giải A cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 2” của Hội Nhà văn Việt Nam (2003 - 2005)” với tiểu thuyết “Dòng sông mía”. Năm 2017, nhà văn Đào Thắng đoạt Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với “bộ đôi” tiểu thuyết “Nước mắt” và “Dòng sông mía”.

Cuộc xung đột biên giới Việt - Trung những năm 1984 -1989 còn được gọi là chiến tranh biên giới Việt – Trung, đỉnh điểm của sự ác liệt là trận Vị Xuyên tại tỉnh Hà Giang. Nhà văn Đào Thắng khi đó có mặt bởi ông tham gia đoàn làm phim tài liệu của Xưởng phim Quân đội ở mặt trận này. Ông tham gia với tư cách là biên kịch, có mặt tại Hà Giang từ tháng 4/1984…

Những hình ảnh đó sau này được sử dụng trong các bộ phim như: “Đồng Văn tháng 5/1984”, phim được giải Nhất của Bộ Quốc phòng; “Thị xã yên tĩnh” – giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam; “Giữ đất” giải của Bộ Quốc phòng; “Nhịp sống mặt trận”…
Ngô Đức Hành

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.