Nhà văn có cần đi thực tế sáng tác?

“Thực tế” có nội hàm rất rộng. Quan niệm, nhận thức về “thực tế” tùy theo lĩnh vực cụ thể mang ý nghĩa khác nhau. Trong đời sống văn chương thì “đi thực tế” là đến một nơi nào đó để trải nghiệm rồi sáng tác.

“Đi thực tế sáng tác” là cụm từ hay được nhắc, hay bàn luận. Theo nhà văn Nguyễn Minh Châu thì có loại nhà văn sinh ra để viết văn, họ “không cần đi thực tế, vẫn có thể viết, viết suốt đời…. Đời sống chỉ có ý nghĩa gợi ý hay dựng vấn đề, còn tất cả mọi loại nhân vật, mọi tình cảnh, mọi tư tưởng đều đã có sẵn trong cuộc sống tinh thần tư tưởng của họ”.

1. Nhà thơ Chế Lan Viên không đến Tây Bắc mà vẫn sáng tác được “Tiếng hát con tàu”, Tố Hữu không tham gia chiến dịch Điện Biên mà lại có bài thơ bất hủ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”… là minh chứng sinh động cho nhận định này. Nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng nói đến kiểu nhà văn thứ hai là “phải đi nhiều, tiếp xúc với đời sống thực tế rồi viết và viết được nhiều”. Đi nhiều, tiếp xúc với đời sống thực tế chính là “đi thực tế sáng tác”. 

Nhà văn có cần đi thực tế sáng tác -1
Cuốn sách “Truyện Tây Bắc” là kết quả của những năm đi thực tế Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài.
Nhà văn có cần đi thực tế sáng tác -0

Tôi cũng đã từng nghĩ rằng: Chẳng cần đi thực tế cũng viết được văn. Bởi sinh ra con người thì cũng phải sống, chính cái đời sống mỗi người với bao nhiêu mối quan hệ đã là thực tế, là kho lẫm tư liệu văn chương rồi. Sống bằng ấy năm trên đời gặp bao nhiêu con người, mỗi con người là một nhân vật, một số phận. Vậy thì cái trải nghiệm cuộc sống của mình, mình biết nhất, hiểu nhất chính là thực tế rồi, cứ từ đó mà viết chứ tìm kiếm ở đâu xa? Có nghĩa là cứ mở “hành trang” của đời mình ra mà chọn cái cần viết trước, cái để lại, thư thả viết sau.

Chẳng hạn, chỉ trong cái làng, hay ngõ phố nhà mình, cái gia đình, dòng họ nhà mình cũng bao nhiêu con người có thể bước vào trang sách để trở thành nhân vật. Thậm chí bản thân nhà văn cũng đã là nhân vật rồi, cứ đem mình ra mà viết. Có người bảo “tự ăn thịt mình” có phần mang ý nghĩa như thế. Thực tế trong đời sống văn chương cũng có nhà văn rất thành công khi lấy cuộc đời thật của mình làm cảm hứng sáng tạo dưới hình thức tự truyện. Có nhà văn chỉ lấy “bóng dáng” những người mà mình đi qua cuộc đời họ, còn cơ bản là hư cấu, sáng tạo cũng vẫn thành công.

Tôi cũng có niềm tin: Nhà văn chỉ viết những gì mình hiểu biết nhất. Có nghĩa là khi có ý định sáng tạo, thì nhà văn bao giờ cũng chọn cái mình đã thấy, đã can dự, đã đọc, đã sống, đã trải nghiệm, đã chiêm nghiệm. Nhưng, tại sao vẫn có nhiều nhà văn chủ trương phải đi thực tế? Đi thực tế bởi trong lao động nhà văn có chuyện: Viết mãi rồi cũng đến lúc người rỗng ra, chẳng còn chuyện để viết. Viết mãi rồi cũng đến lúc xơ cứng, cảm xúc chai lì. Đi thực tế để gây cảm xúc mới, để nuôi dưỡng cảm xúc lâu dài. Đi thực tế là hình thức thâm nhập, thu lượm tìm kiếm ý tưởng, chủ đề, câu chuyện mới để viết. Nhưng cũng có trường hợp tác giả đã có ít nhiều vốn sống về vấn đề muốn viết, họ đi thực tế chỉ để tìm kiếm, bổ xung cho vùng khuyết thiếu của nhà văn. 

2. Một thời, đi thực tế như một nhiệm vụ bắt buộc của nhà văn. Nhà văn phải hòa mình vào cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, phải sống cuộc đời công - nông - binh trước đã, rồi sau mới để viết.

“Vô địch” đi thực tế có lẽ là nhà văn Tô Hoài? Ông đi cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc. Hòa bình lập lại, Tô Hoài đi thực tế nông thôn “về xã ngót hai năm, ba đợt làm anh đội cải cách rồi anh đội sửa sai”; trước đó “nửa năm về Thái Bình” cùng với nhà văn Phùng Quán, nhà thơ Trần Lê Văn, nhà thơ Hoàng Cầm do nhà thơ Hoàng Trung Thông làm tổ trưởng. Nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng cũng đi Tây Bắc. Nguyễn Khải đi nông trường Điện Biên.

Theo Tô Hoài thì nhà văn Kim Lân “vác xà beng đi đào sông bên Bắc Hưng Hải”, còn “Nguyên Hồng đẩy xe goòng nhà máy xi măng Hải Phòng và Võ Huy Tâm đội mũ thợ, tay xách đèn bão, đi lò ở mỏ than Hồng Quảng”, nhà thơ Chế Lan Viên về Hưng Yên đeo xà cột vải, đội mũ lá, mặc quần áo bà ba như một ông cán bộ xã… Đi thực tế sáng tác rầm rộ, đến mức vào sáng tác của Chế Lan Viên bằng bài thơ “Đi thực tế”: “Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân/ Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy/ Bỗng hối tiếc ngàn câu thơ nước chảy/ Chửa “vì người” bằng một bữa ăn cơm”.

Nếu không đi thực tế ở Tây Bắc, Nguyễn Tuân sẽ không có tùy bút “Sông Đà” nổi tiếng nhất sự nghiệp của ông sau năm 1945. Không đi theo bộ đội giải phóng Tây Bắc thì Tô Hoài sẽ không có “Truyện Tây Bắc”, mà ấn tượng nhất là “Vợ chồng A Phủ” nhiều năm vào đề thi phổ thông, và không có những năm tháng đi thực tế nông thôn thì ông cũng không có tiểu thuyết “Ba người khác”. Nhà văn Võ Huy Tâm nếu không quay lại vùng mỏ than Quảng Ninh đội mũ thợ lò, thì sẽ không có tiểu thuyết “Những người thợ mỏ”. Nguyễn Khải không đi thực tế các nông trường Điện Biên sẽ không có “Mùa lạc” để rồi làm say đắm bao nhiêu thế hệ thầy trò và cũng làm “khốn khổ” hàng triệu học sinh phổ thông thi tốt nghiệp v.v...

Lại có những tác phẩm của các chuyến đi thực tế viết rất nhanh về người thật việc thật  một thời trở thành biểu tượng anh hùng rực rỡ để toàn dân noi theo. Từ cuộc sống lao động, chiến đấu ở ngoài đời, nguyên mẫu bằng xương bằng thịt với những hành động phi thường bước vào tác phẩm của nhà văn để trở thành nhân vật văn học như Đinh Núp trong “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc, anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trong “Sống như anh” của Trần Đình Vân, chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, và cô du kích Kan Lịch dân tộc Pa Kô trong tiểu thuyết “Kan Lịch” của Hồ Phương, rồi liệt sĩ Phan Thị Ràng trở thành nhân vật chị Sứ trong tiểu thuyết “Hòn Đất” của Anh Đức…

3. Nhà văn đi thực tế sáng tác hay hoặc dở là do tài năng, và lao động sáng tạo của mỗi người. Cô Mỵ lầm lũi làm dâu mà thân phận không bằng con ở và tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” vẫn sống đến ngày nay. Anh Núp cứ sống lừng lững mãi cùng “Đất nước đứng lên”, chị Sứ vẫn đi cùng năm tháng với tiểu thuyết “Hòn đất”… Nhưng cũng có nhiều người thật việc thật đi vào tác phẩm rồi lại bước khỏi trang sách cùng sự lãng quên của bạn đọc. Có người đem thực tế vào trang viết rất gượng gạo, sống sít, giả tạo. Không xây dựng được hình tượng nhân vật, mà lại thành người tốt việc tốt. Người thực việc thực ùa vào tác phẩm vừa đơn giản vừa xơ cứng nên ra một thứ văn thơ đạt được ý nghĩa tuyên truyền, nhưng mất mùa nghệ thuật văn chương.

Sở dĩ có tình trạng đi thực tế sáng tác, người thì gặt hái bội thu văn chương, người thì mất mùa trắng tay còn do quan niệm nghệ thuật, nhận thức đời sống khác nhau và dẫn đến sáng tạo khác nhau. Người nào vượt qua khả năng sao chép hiện thực để sáng tạo hiện thực sẽ làm ra tác phẩm ưu tú. Thấy gì ghi đó, nghe gì kể nấy, rồi chọn lựa cái đặc sắc nhất, sinh động nhất cho có chuyện để kể bằng một năng lực “viết có văn” xét đến cùng vẫn là sao chép hiện thực có chọn lọc.

Đi thực tế sáng tác được trải nghiệm hiện thực, nhưng nhà văn phải tư duy, phải đứng ngoài và đứng xa để nhìn và nghĩ ngợi về “khối quặng thô” vừa lượm được. Từ đó, huy động sức tưởng tượng, kinh nghiệm, trải nghiệm sống, kỹ năng viết văn để đột phá nhận thức mới, và trăn trở phương thức thể hiện mới, thì may ra mới khái quát, sáng tạo ra hiện thực mới và hình tượng nghệ thuật mới.

Bây giờ, đi thực tế sáng tác theo kiểu phong trào thường là không mấy hiệu quả. Một đoàn nhà văn, nhà thơ được một tổ chức chuyên môn, hay một doanh nghiệp, một cơ quan mời đến một vùng đất nào đó ăn, ngủ, nghỉ, khai tác tài liệu để viết. Ngắn thì một tuần, dài thì một tháng. Kết thúc nộp tác phẩm, nơi nào có kinh phí thì in thành sách ngay. Văn chương phong trào sau mỗi chuyến đi thực tế in để biếu tặng, chẳng mấy ai đọc.

Đi thực tế sáng tác phải là nhu cầu nội tại, tự thân nhà văn thì hiệu quả mới cầm chắc trong tay. Có nghĩa là nhà văn tự lên kế hoạch cho chuyến đi của mình, đến vùng miền và không gian văn hóa nào, ăn ngủ nghỉ ra sao, gặp những con người nào, lấy tư liệu gì, đi lần thứ nhất chưa đủ thì đi lần thứ hai…

Nhà văn Nguyễn Khắc Trường đang làm biên tập văn xuôi ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, chợt một ngày ông nhận ra: Phải đi khỏi Hà Nội để “viết một cái gì đó cho ra hồn”. Một mình ông âm thầm về nông thôn Hải Dương, Hưng Yên; một mình ông khoác ba lô đựng mấy bộ quần áo về các huyện: Nga Sơn, Thọ Xuân, Triệu Sơn (Thanh Hóa) “nằm vùng” cùng ăn cùng ở với nông dân, rồi thấy một cái gì đang vỡ ra ở nông thôn khi cái cũ chưa qua, cái mới đang đến, để viết tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”.

Nhà văn Vũ Xuân Tửu dành ra 3 năm lần theo những bước chân, những chuyến đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở mọi vùng đất nước, để gặp gỡ các nhân vật sống cùng thời, để hiểu biết không gian địa lý, để được sống trong “từ trường Đại tướng” để viết tiểu thuyết “Đại tướng Võ Nguyên Giáp” dày 800 trang… 

Nhà văn đi thực tế sáng tác không ai giống ai đâu. Mỗi nhóm đi một kiểu cách, mỗi người một mẹo mực. Nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng đi thực tế thường là không ghi chép gì cả. Nhìn bề ngoài cứ nghĩ các ông đi chơi, như đi chơi mà chẳng cái gì qua con mắt các ông. Đi chơi mà vẫn quan sát, nghĩ ngợi. Cái gì vô vị thì trôi đi, quên mất; cái gì nhớ lâu, nhớ sâu thì đọng lại. Lao động nhà văn biết lấy cái “đọng lại” ấy lúc nào và sử dụng ra sao. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường kể: “Những chuyến đi thực tế tôi đi cùng Nguyễn Khải và không viết gì, chỉ để quan sát xem ông làm những gì, hỏi gì, và khi về ông viết như thế nào. Một chuyến đi như thế thu hoạch được nhiều lắm”.

Nhưng phần đông nhà văn đi thực tế là ghi chép kĩ càng, tỉ mỷ. Ông bà nào cũng tay sách vở, tay bút mực sẵn sàng ghi những gì thấy, những gì nghe có ích, có hiệu quả cho sáng tác. Nhà văn Tô Hoài là một người đi nhiều, viết lắm. Ông rất chịu khó ghi chép, ghi cả những chi tiết, mẩu chuyện tưởng như vặt vãnh trong cuộc sống. Ông có 7 năm làm tổ trưởng dân phố, các chuyện lặt vặt đời thường ở ngõ phố, dân phố, hay lúc họp hành ở tổ dân phố, ở phường đều được ông ghi chép lại. Nguyễn Khải, Phan Tứ đi thực tế cũng ghi chép tỉ mỉ. Về sau, từ những tư liệu quý giá trong sổ tay, cảm xúc và lao động nhà văn đã sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị.

Có vô số chuyến đi thực tế sáng tác của rất nhiều nhà văn. Nhưng, chất lượng sáng tác thế nào, hiệu quả đến đâu lại phụ thuộc vào tài năng, tâm huyết và cả cách đi thực tế nữa. 

Sương Nguyệt Minh

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?