Nhà văn Anh Đức và một Áng khói thần ven đô

Nhà văn Anh Đức có một sự nghiệp khá suôn sẻ. So với thế hệ cầm bút trưởng thành trong phong trào cách mạng miền Nam, nhà văn Anh Đức thành danh rất sớm và ngừng viết đúng lúc...

Tính từ tập truyện ngắn "Biển động" in năm 1952 đến tập truyện ngắn "Miền sóng vỗ" in năm 1985, Anh Đức đã hoàn thành chân dung một nhà văn Nam bộ có phong cách điềm đạm và tận tụy. Gần 30 năm trước khi qua đời ở tuổi 79, nhà văn Anh Đức không công bố thêm tác phẩm nào, nhưng dấu ấn ông để lại văn đàn vẫn đậm nét!

Nhà văn Anh Đức (5-5-1935 - 21-8-2014) có hai giai đoạn sáng tác, lấy cột mốc năm 1962, khi ông từ miền Bắc quay vào Căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Trước năm 1962, ông sáng tác với tên thật Bùi Đức Ái. Sau năm 1962, ông sáng tác với bút danh Anh Đức. Mỗi giai đoạn, ông tạo dựng được một hình ảnh phụ nữ Nam bộ kháng chiến tiêu biểu: chị Tư Hậu trong "Một chuyện chép ở bệnh viện" và chị Sứ trong "Hòn Đất".

Đi tập kết ra Bắc, anh cán bộ Bùi Đức Ái nhận công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Năm 1957, Bùi Đức Ái gặp nhân vật Nguyễn Thị Huỳnh. Câu chuyện về những mất mát âm thầm và những hy sinh lặng lẽ của người phụ nữ miền Nam ấy, đã khiến Bùi Đức Ái xúc động viết truyện ngắn "Người chị".

Sau khi "Người chị" được phát trong chương trình "Đọc truyện đêm khuya", nhiều người góp ý rằng một hình tượng như vậy mà chỉ phản ánh trong dung lượng khoảng 2 ngàn chữ thì hơi phí. Cảm thấy có lý, Bùi Đức Ái bằng nhiệt huyết tuổi đôi mươi, đã bỏ ra ba tháng để chuyển truyện ngắn "Người chị" thành tiểu thuyết "Một chuyện chép ở bệnh viện".

Tất nhiên, nhân vật Tư Hậu trong "Một chuyện chép ở bệnh viện" được nhấn nhá nhiều chi tiết không còn giống như nguyên mẫu Nguyễn Thị Huỳnh nữa. Năm 1958, "Một chuyện chép ở bệnh viện" được ấn hành và được dựng phim "Chị Tư Hậu" gây tiếng vang rất lớn, và nhanh chóng đưa tên tuổi Bùi Đức Ái vào hàng ngũ những gương mặt văn chương Nam bộ nổi tiếng trên đất Bắc!

Thời gian 7 năm sống trên đất Bắc, Bùi Đức Ái không chỉ có được "Một chuyện chép ở bệnh viện" mà còn có được lương duyên với một người đẹp phố Hàng Gà. Dạo ấy, thư viện của Hội Nhà văn Việt Nam có cô nhân viên xinh xắn tên là Trần Phúc Mộc Loan. Thiếu nữ thanh lịch Trần Phúc Mộc Loan gốc gác Hà Nội đã hớp hồn chàng trai quê xứ An Giang.

Đang hẹn hò say đắm thì Bùi Đức Ái được lệnh trở về miền Nam chiến đấu. Không chấp nhận cảnh nhớ thương dằng dặc, Trần Phúc Mộc Loan xung phong vượt Trường Sơn theo tiếng gọi miền Nam. Năm 1965, Bùi Đức Ái đón Trần Phúc Mộc Loan ở cánh rừng Tây Ninh, và họ có một đám cưới giản dị dưới tán lá trung quân. Đoạn kết mối tình như cổ tích bay ngược ra Bắc bằng một cái máy ghi âm, và người nhà của Trần Phúc Mộc Loan được nghe thông báo hôn lễ bằng chính giọng nói hân hoan của đôi uyên ương.

Trên mảnh đất Nam bộ những ngày khói lửa, Bùi Đức Ái với bút danh Anh Đức viết được tiểu thuyết quan trọng nữa trong sự nghiệp là "Hòn Đất". Từ nguyên mẫu nữ anh hùng Phan Thị Ràng, nhà văn Anh Đức đã xây dựng thành nhân vật chị Sứ. So với "Một chuyện chép ở bệnh viện" thì văn chương của "Hòn Đất" bay bổng hơn, điêu luyện hơn.

Tiểu thuyết "Hòn Đất" là tác phẩm đầu tiên miêu tả trực diện cuộc chiến đấu chống Mỹ của quân dân miền Nam. Ngoài chị Sứ là người mà nhà văn Anh Đức khẳng định: "Tôi đã rút ra từ nhiều mẫu người con gái miền Nam anh hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang để đúc lại thành một người" thì những con người nhỏ bé và lầm lũi khác trong "Hòn Đất" như Quyên, Hai Thép, Ba Rèn, Má Sáu… đều kiên cường đối mặt với kẻ thù hung tợn.

Năm 1966, tiểu thuyết "Hòn Đất" được in tại Hà Nội như một huyền thoại từ chiến trường miền Nam. Và đến nay, "Hòn Đất" vẫn là tác phẩm của Anh Đức được in nhiều lần nhất trong nước và được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản…

Khi bản in "Hòn Đất" lần đầu tiên được ấn hành, nhà phê bình Hoài Thanh có bài khen ngợi "Hòn Đất, một quyển truyện hay" nhưng đồng thời cũng lưu ý "Sơ suất chính về phía ta là chuyện rút vào hang, tự dồn mình vào thế nguy hiểm. Không rõ Anh Đức có nhìn ra điều ấy không?".

Thực tế, bối cảnh trong "Hòn Đất" diễn ra ở Kiên Giang năm 1961, và được nhà văn Anh Đức khởi viết từ năm 1964 với tên gọi "Hang thiêng". Một nhóm người ít ỏi với vũ khí thô sơ trong một cái hang đá vẫn can trường chống chọi khi bị bủa vây suốt 8 ngày bởi một lực lượng hùng hậu gần 2 ngàn tên địch với vũ khí tối tân, mới chính là điều mà nhà văn Anh Đức muốn thể hiện.

Trong quá trình viết "Hang thiêng", nhà văn Anh Đức tạm ngừng dăm bảy tháng để viết truyện ký "Gió đã nổi từ một khu rừng" về nhân vật Pi Năng Tắc ở Bác Ái - Ninh Thuận, phục vụ cho Đại hội Anh hùng toàn miền Nam. Cuối năm 1965, nhà văn Anh Đức mới tiếp tục hoàn tất "Hang thiêng", và đổi tên thành "Hòn Đất" để gửi ra Bắc!

Từ "Một chuyện chép ở bệnh viện" đến "Hòn Đất", nhà văn Anh Đức đã đóng góp cho văn học cách mạng hai hình tượng thuyết phục: chị Tư Hậu và chị Sứ. Thế nhưng, không chỉ có chị Tư Hậu và chị Sứ, những người phụ nữ Nam bộ trong kháng chiến luôn là đề tài mà nhà văn Anh Đức thao thức, như ông quan niệm: "Tôi đã cố gắng không những miêu tả tính nết, tư tưởng và tình cảm của họ mà còn miêu tả hình dạng khuôn mặt, mái tóc, đôi bàn tay của họ nữa. Có thể tôi tả chưa đầy đủ về họ nhưng những dòng nào viết về họ bao giờ tôi cũng nâng niu, trân trọng…". Một ví dụ khác về nhân vật nữ được nhà văn Anh Đức khắc họa rất trìu mến là cô gái ven đô Quế trong truyện ngắn "Khói".

Truyện ngắn "Khói" nằm trong loạt tác phẩm Anh Đức viết với cảm hứng dạt dào khi trở lại miền Nam. Tại mảnh đất nhỏ ở chiến khu Tân Biên, nơi mà văn nghệ sĩ gắn bó với căn cứ R vẫn gọi bằng cái tên khá thi vị là Lãng Bạc, nhà văn Anh Đức liên tục cho ra đời những truyện ngắn đầy hơi thở kháng chiến như "Đứa con" viết năm 1963, "Con chị Lộc" viết năm 1964, "Giấc mơ ông lão vườn chim" viết năm 1965… Truyện ngắn "Khói" được nhà văn Anh Đức viết năm 1968, như một thước phim sinh động về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân!

Truyện ngắn "Khói" mở đầu bằng không khí của đợt 2 Mậu Thân: "Đêm Tháp Mười, tôi cứ ngỡ bầu trời cao hơn chỗ khác. Cánh đồng mênh mông đắm chìm trong sương mù, rì rầm như sóng biển. Ấy là cái tiếng nói muôn thuở của gió lùa qua bờ cỏ. Tháng tư rồi, Tháp Mười vẫn chưa mưa. Ban ngày nắng chói chang, đêm đến cánh đồng mát rợi, lộng gió. Không bị ngăn cách bởi cây cối, gió thổi rất mực hào phóng. Còn hai tiếng đồng hồ nữa, đơn vị xuất phát…".

Qua những tâm sự đứt quãng của Hựu - một chiến sĩ giải phóng, nhân vật Quế hiện lên thật lung linh và thật khắc khoải. Hựu gặp Quế năm cô 16 tuổi. Quế mồ côi cha mẹ, nương tựa bà ngoại, và thường xuyên tiếp tế cho Hựu hoạt động bí mật. Một lần Quế đem cơm nước cho Hựu, và căn hầm của họ bị một toán lính phát hiện.

"Chúng tôi nín thở lắng nghe. Có tiếng chà gai tre bị kéo rột rẹt trên miệng hầm. Thình lình, tôi nghe "phụp" một cái. Một mũi chĩa từ nắp hầm xiên chếch qua giữa đầu tôi và Quế. Tôi rút chốt an toàn lựu đạn. Kế đó một mũi chĩa thứ hai xom xuống. Mũi chĩa này trúng vào vai Quế. Trong ánh sáng mờ mờ của gian hầm, tôi thấy Quế bặm chặt môi lại. Tình thế ấy chỉ còn có cách là mở tung cửa hầm xông lên ném lựu đạn rồi giải thoát. Nhưng tôi vừa mới nhổm dậy thì Quế đã kéo nhẹ tôi lại. Quế bình tĩnh rút chiếc khăn sọc quàng cổ, áp nhẹ tấm khăn vào mũi chĩa đang cắm phập trong vai cô. Đợi chúng rút chĩa lên, Quế đưa chiếc khăn khéo léo vuốt sạch máu ở mũi chĩa… Đến lúc mũi chĩa rút lên khỏi miệng hầm rồi, tôi mới nghĩ là hầm chưa bị lộ…". Đáng khâm phục thay, Quế chịu đựng nỗi đau đớn ấy mà không một giọt nước mắt. Quế chỉ khóc khi nhìn thấy Hữu mặc áo rách.

Di chứng mũi chĩa là cánh tay phải của Quế sau này không thể nhấc mạnh lên được, nhưng cô vẫn cùng đồng bào làm hậu bị cho cuộc tổng tiến công Mậu Thân. Sau trận chạm trán với trực thăng chiến đấu của địch và bắt sống được hai lính Mỹ, cánh quân của Hữu rút lui an toàn nhờ "bà con đã nổi khói rồi".

Khói tỏa nhòa khuất tất cả mọi dấu vết chiến sĩ giải phóng, khiến "máy bay địch đã đến, lồng lộn trên đám khói, chúng không biết bắn vào đâu vì hầu như khói che phủ khắp cánh đồng". Và Quế lại xuất hiện trước mặt Hựu, sau đám khói đã tan với dung mạo "khuôn mặt còn dính tro của cô giờ ửng đỏ. Tóc cô còn rắc đầy tro. Mồ hôi lấm tấm rịn ra trên vầng trán cô, chảy nhỏ giọt xuống thái dương… Đôi mắt của cô như đương cười, long lanh sáng rực dưới hàng mi dài rung rung".

Truyện ngắn "Khói" được viết khi tài năng Anh Đức vào độ chín muồi, nên từ cấu trúc đến chi tiết đều đặc trưng cho bút pháp của ông. Qua trang văn Anh Đức, nhân vật Quế như một nét chấm phá rực rỡ của chiến dịch Mậu Thân: "Tôi đưa mắt nhìn một lần nữa bóng Quế đang đứng ngó theo Hựu, cô gái đã từng đưa tay vuốt lấy những giọt máu đỏ tươi của mình ở đầu ngọn chĩa, và mới đây đã cùng chị em bè bạn đốt lên một áng khói thần". 

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.