Nhà thơ Y Phương: Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí lớn

Cuối tháng 10/2019, tôi được trở lại Cao Bằng nhân “Lễ hội Non nước Cao Bằng năm 2019”. Đến vùng Đất Thiêng này, trái tim ai cũng bồi hồi, ngoài nỗi niềm chung có nỗi niềm riêng. Dọc quốc lộ 3, sau khi ra khỏi địa giới Bắc Kạn, bên tai tôi đã văng vẳng ca khúc da diết “Non nước Cao Bằng” của nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo và “Mời anh lên Cao Bằng quê em” (nhạc Thuận Yến, thơ Y Phương).

Nhà thơ Y Phương tên thật là Hứa Vĩnh Sước, người dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên tại vùng đất có cái tên nhắc nhở về chữ “hiếu”: làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu. Nay làng ông đã được nhập vào thị trấn Trùng Khánh, Cao Bằng. Năm 1968, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt, Y Phương nhập ngũ. Ông là người lính thuộc Binh chủng Đặc công - đặc biệt tinh nhuệ và được điều vào tận Tây Ninh, sát nách Sài Gòn. Nhà thơ Y Phương phục vụ trong quân đội đến năm 1981 thì chuyển ngành, ra dân sự.

Hồi đó anh xin về Trùng Khánh nhưng huyện nhà không sắp xếp công việc phù hợp nên anh lên thị xã Cao Bằng. Chỉ mất 15 phút, Sở Văn hóa – Thông tin nhận ngay”, nhà thơ Y Phương chia sẻ về những ngày đầu trở lại quê hương.

Nhà thơ Y Phương “xêm xêm” tuổi với những người đáng kính như nhà văn Đào Thắng, các nhà thơ Nguyễn Hoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Trọng Tạo... Sau khi tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khoá II, nhà thơ Y Phương làm cán bộ biên tập văn nghệ Sở Văn hoá - Thông tin Cao Bằng. Từ năm 1993, ông là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá VI. Hiện nhà thơ Y Phương là Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam.

Cho đến nay Y Phương đã xuất bản "Người Núi Hoa" (kịch, 1982), "Tiếng hát tháng giêng" (thơ, 1986), "Lửa hồng một góc" (thơ, in chung, 1987), "Lời chúc" (thơ, 1987), "Đàn then" (thơ, 1996), "Chín tháng" (trường ca, 1998), "Thơ Y Phương" (2000), "Thất tàng lồm" (Ngược gió, thơ song ngữ Tày - Việt, 2006).

Ông đã được nhiều giải thưởng văn chương danh giá: Giải A cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1984, Giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (tập thơ "Tiếng hát tháng Giêng" ) năm 1987, giải A giải Hội đồng văn học dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam (tập thơ "Lời chúc") năm 2000) và 2 giải B của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (tập trường ca "Chín tháng") năm 2001). Cùng năm ấy trường ca này cũng đoạt Giải B của Bộ Quốc phòng. Đặc biệt, năm 2007 nhà thơ Y Phương giành Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với bộ ba tác phẩm "Chín tháng" (trường ca), "Tiếng hát tháng Giêng" (thơ) và "Lời chúc" (thơ). 

Nói về giải thưởng đầu tiên, nhà thơ Y Phương kể: "Hồi ở R, anh viết thơ để làm báo tường cổ vũ bộ đội. Không hiểu bằng cách nào 2 bài thơ lại theo đường mòn Hồ Chí Minh, đến với Tạp chí Văn nghệ quân đội, được đăng và sau đó đạt giải A. Khi đó anh mới nhận ra trách nhiệm rằng mình phải dâng hiến cho thơ”, nhà thơ Y Phương hóm hỉnh.

Học phổ thông anh thích toán, lý nhưng cũng mê văn thơ. Đến với văn chương, bắt đầu lại viết kịch nói”, nhà thơ Y Phương chia sẻ. Ông từng tốt nghiệp Trường Sân khấu - Điện ảnh. Ông bảo, “Nghệ thuật thứ 7” là tổng hợp của các loại hình nghệ thuật, rất có ý nghĩa với sáng tác sau này của mình.

Thơ Y Phương có cái chất phóng khoáng, lãng mạn rất lạ. Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. Ông hồn hậu ngoài đời cũng như trong thơ. Gần như nhà thơ Y Phương tự thuật về mình trong một bài thơ: “Con là con trai của mẹ/ Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ/ Ba mươi tuổi từ mặt trận về/ Vội vàng cưới vợ” (Tên làng).

Đó là nơi suốt đời ông không quên: “Ơi cái làng mẹ sinh con/ Có ngôi nhà xây bằng đá hộc/ Có con đường trâu bò đi vàng đen kìn kịt/ Có niềm vui lúa chín tràn trề/ Có tình yêu tan tành tiếng thác” (Tên làng). Thú thực khi đọc bài thơ này, tôi nhớ đến nhà thơ Nga vĩ đại Raxun Gamzatốp khi viết về Đaghextan, về ngôi làng Xada yêu dấu của mình. Tất cả đều gần gũi chân thật và sống động. Có hiểu Y Phương từ ngôi làng, nơi có những mỏm đá, rừng cây phía sau ngôi nhà mình mới cắt nghĩa được thơ ông.

Do vậy, đọc thơ Y Phương, người đọc thấy hiển hiện lên “Non nước Cao Bằng”. Đúng như nhà thơ “cá tính” Trần Mạnh Hảo đánh giá, “Y Phương có khả năng mang núi non Cao Bằng vời vợi vào trong chạn bát nhà mình mà nghiêng ngả tuỳ thích”. 

Ông luôn tự hào về quê hương, không gian văn hóa Tày. “Ở làng Tày/ Ngày xưa người nói thành thơ/ Không thích kể/ Đến bây giờ vẫn thế” (Ngày xưa, ngày nay); đấy là nơi, có “Những đứa con làng đá/ Đen kịt/ Nặng trịch...”, dẫu còn thiếu thốn vật chất “Những đứa con chân đất/ Lăn lóc đi vào đời” (Những đứa con làng đá).

Trong “gia tài” văn chương của nhà thơ Y Phương, tôi để ý đến “Chín tháng” bởi trường ca này đã đạt “cú đúp” giải thưởng. “Chín tháng” kết cấu thành 15 phân khúc từ I đến XV. Y Phương từng là bộ đội nên dễ hiểu chiến tranh, người lính là cảm hứng chủ đạo của trường ca. Điều người đọc thích thú có lẽ là hình ảnh người phụ nữ, đặc biệt người mẹ (tiếng Tày là mé) là hình tượng nổi bật, xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. “Bạn ơi/ Chuyện này/ Tôi kể/ Bắt đầu từ mẹ...”, Y Phương mở đầu trường ca; và anh kết thúc: “Bạn ơi/ Một ngày nữa đến/ Mẹ như trăng sao/ Êm êm đi vào lòng trời lòng người/ Bình dị”. Đó có thể là người mẹ Tổ quốc, là người mẹ sinh thành ra ông và là một giá trị.

Nhà thơ Y Phương giao lưu với độc giả trong một buổi gặp gỡ.
Nhà thơ Y Phương giao lưu với độc giả trong một buổi gặp gỡ.

Cũng trong trường ca này Y Phương “chạm khắc” nên những thông điệp về cuộc sống, gần gũi, dễ hiểu. Ngay từ khi mới sinh ra “tôi” - nhà thơ đã tuyên ngôn “Ai gọi tôi là hòn vàng/ Ai nựng tôi hòn bạc/ Vàng bạc là thứ gì/ Tôi sẽ ném chúng tung bay như rác”. Đối với ông “Đời cây như đời người/ Thương nhau đến chết/ Tin nhau đến chết” (Bài ca những người đi chân đất)

Nhà thơ Y Phương luôn đau đáu về không gian văn hóa Tày. Ông sợ bị mai một trong dòng chảy thời cuộc và áp đặt tư duy thiếu căn bản. “Nhiều giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, chứ không riêng người Tày đã bị tan loãng đi”, nhà thơ Y Phương trầm buồn. Ông bảo, ta hay nói xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhưng chẳng biết thế nào là “đậm” thế nào là “nhạt”. Dẫu là trong căn hộ ông ở Hà Nội, nhưng “không gian Tày” không mất đi, ông và gia đình luôn biết gìn giữ, nâng niu như một giá trị bất biến.

                Hồi ấy
                Ở làng tôi
                Có người đi lính về
                Quên hết tiếng Tày

                (Tiếng mẹ đẻ)

Cổ nhân có dạy: “Chém cha không bằng pha giọng”, vậy mà quên tiếng mẹ đẻ thì rõ ràng không nỗi đau nào bằng. Chính vì thế mà bi kịch xảy ra, người mẹ thắt cổ. Chỉ đến lúc ấy “Người lính vật vã khóc/ Gọi “mé ơi”/ Đúng giọng người làng tôi”; và điều bất ngờ đã xảy ra “Bà mẹ khẽ mỉm cười/ Rồi từ từ khép mắt” (Tiếng mẹ đẻ).

Phải nói là ám ảnh. Đọc Y Phương, thấy ông đằm sâu truyền thống vừa khoáng đạt thời đại. Y Phương đã đưa tâm hồn vào thơ Tày, ông tư duy theo cách của người Tày với thi pháp thơ hiện đại, vừa làm giàu bản sắc dân tộc, vừa mang hơi thở của hiện thực. “Anh sắp in một trường ca song ngữ Tày – Việt”, tôi được nhà thơ báo tin vui.

Sau khi đi Cao Bằng về tôi đến thăm gia đình nhà thơ Y Phương, kể cho ông nghe những câu chuyện “gom nhặt” dọc đường ngay trên chính quê hương ông. Tôi cám ơn những người quý mến, trong đó có ông đã đưa tôi đến Cao Bằng.

Ở tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng nhà thơ Y Phương mấy năm nay miệt mài với lớp học chữ Hán. Chắc nhiều người sẽ thắc mắc về điều này? “Anh học để để còn dịch những cuốn sách Nho Tày mà bố anh để lại. Ngày xưa cụ nhà anh nổi tiếng là có cả một “bồ chữ”, nhà thơ Y Phương trải lòng. Ông học để bảo tồn các giá trị văn hóa Tày từ trong thư tịch. Không chỉ của bố ông để lại mà chắc chắn nhà thơ Y Phương còn muốn sưu tầm thêm, để gìn giữ.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo từng nhận xét về nhà thơ Y Phương “Nhẩn nha sống, nhẩn nha thơ”. Nhà thơ Y Phương là vậy, ông sống nhẹ nhõm, thanh thản, an nhiên giữa cuộc đời. Tình người trong thơ Y Phương, như chính con người ông: mộc mạc, chân chất mà vẫn lãng mạn, bay bổng. “Cuộc đời hóa thân thành đứa trẻ thơ ba tháng dưới mắt nhà thơ dân tộc Tày này sao lại ngộ nghĩnh, lại cảm động và chân tình làm vậy”, nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng rất ngộ nghĩnh khi nói về Y Phương.

Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn/ Sống trên đá (đừng chê đá gập ghềnh)/ Sống trong thung (đừng chê thung nghèo đói)” (Nói với con). Y Phương là người nuôi dưỡng giá trị sống và luôn khắc khoải bởi những giá trị ấy.

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.