Nhà thơ Trần Hùng: “Muốn tắt mình mà không công tắc”

Tôi chưa bao giờ gặp Trần Hùng ngoài đời. Nhưng trước đó, tôi từng biết anh qua lời nhắc của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong một lần nào đó khi anh về Hà Tĩnh...

Và với lòng yêu quý người anh mến thương đã ra đi, tôi bỗng nhiên thấy gần gũi hơn với Trần Hùng khi biết anh từng chơi thân với Nguyễn Trọng Tạo. Rồi qua facebook, nghe anh đàn piano, đọc thơ anh mỗi ngày. Những câu thơ lạ, những bản nhạc êm dịu, cảm giác của tôi, đó là một người tài hoa.

Mới đây, khi trò chuyện cùng anh qua facebook, tôi mới biết anh từng là một quan chức, điều khá hiếm với một nhà thơ. Anh nguyên là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng, Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng,  Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng, Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Cao Bằng, là một người lính từng tham gia chiến tranh biên giới phía Bắc.

Vì không biết gì về anh, cho nên, khi nhận được tập thơ "Mùa xa" anh vừa xuất bản, tôi đã đọc ngay để ngấm anh. Bởi thế cho nên, tôi mạo muội hiểu anh qua thơ, qua cái cách mà anh thể hiện với ngôn từ khác lạ, qua tựa đề bình dị của tập thơ có tên "MÙA XA".

Anh thường đặt tên cho các tập thơ rất ít chữ, đơn giản, nhẹ nhàng, ít gợi. Chỉ 2 từ để diễn tả một khoảng trời. "Gọi bạn" (1991), "Mơ Quê" (1998), "Thảm Thắc" (2015), "Vườn Khuya" (2015). Đó là kiểu đặt tít kiệm chữ của Trần Hùng. Nhưng nếu chỉ nghe tên của tập thơ để nói là giản đơn thì bạn sẽ rất nhầm, nếu như bạn không đọc những bài thơ trong đó.

Đầu tiên, đó là vì sao Trần Hùng thích nói "Xa" đến như vậy. Phải chăng đây là cảm giác của một người luôn cảm thấy thế giới quanh mình thường xuyên biến đổi. Quy luật vận động của thế giới, sự vật, con người, tình yêu, nỗi nhớ, niềm vui, nỗi buồn... Cái hữu hình và cái vô hình, đều có thể phôi pha, tan biến, sắc sắc, không không, vừa có đây, lại không ở đây nữa. Cho nên, không khó khi bắt gặp trong tập thơ "Mùa xa", rất nhiều lần anh nhắc đến từ "xa" .

"Hoa cau rơi mẹ xa ta rồi/ Ngày xa nhau, Gõ kiến bên thân cau...". "Cuối đường mưa em ngồi như sen/ Cuối đường mưa chúng mình như gạo trắng/ Rồi chầm chậm em đi/ Xa lắm...". "Em vời vợi mơ xa rồi cuối cùng em đã trở về anh/ Về như đau như nhung".  Hoặc: "Hãy nhìn em qua một vòm xanh một khoảng trời xa". Rồi: " Thế giới có thể gần hơn/ Thân xác có thể xa hơn...".

Và còn nữa: "Ôi hương áo xa bến chiều/ Xin cùng những vết thương/ Về đây/ Nào bay". "Ngôi sao đã găm vào nơi xa nhất/ Nhói lên xiu xiu rồi đêm vô cùng".

Kể cả lúc đọc sách "Thư viện một mình/ Sách mở/ Mây xa/ Khói thuốc mờ khăn phu la/ Sau mây kia là mùa đông năm Đinh Mão". Rồi trong cơn bão: "Xuyên qua bão mưa ý nghĩ đưa ta về hang ổ/ Một căn lều nhỏ một nơi rất xa". Hoặc nơi sân ga: "Biết là xa rồi/ Mà sao vẫn gió vẫn lá về nơi người...".

Kể cả khi ôm một người đàn bà ngủ, cảm giác xa dần, mất mát càng hiện rõ: "Nắng lên/ Em quần bò trườn khỏi tôi/ Một phép thử/ Hay ngoài kia một người đàn ông đang đợi...Ừ có thể/ Một đàn ông đang đợi/ Cũng có thể/ Một đàn bà đang đợi/ Nắng cũng xa rồi".

   ....

Có những câu thơ về sự hụt hẫng, mất mát mà tôi chưa thấy ai viết như Trần Hùng: "Ướm lên tim anh một xanh dù lá đắng/ Rớm lên môi anh một trăng rồi xa anh".

Hiểu rồi. Như anh nói, xa để thấy được gần. Để có chỗ lắng mình cảm nhận thế giới. Như anh tâm sự: "Đàn ông khác đàn bà ở chỗ buồn thì một mình nhìn thật xa thôi". Nhìn thật xa, để có một độ lùi khoảng cách thời gian và lịch sử, mới thấy trọn được cảm xúc quý báu và trân trọng những giây phút hiện tại.

Trần Hùng hay sử dụng bất ngờ một vài thanh trắc trong một câu thơ toàn thanh bằng, tạo cảm xúc lan lan, khác lạ. "Tóc em như đàn kiến đêm miên man/ Da em ngân vang mùa mùa muỗi hoang"... "Hàng hàng vó đêm buông chân mơ rồi/ Màu nào thoa lên màu môi nhớ suông tôi". Hoặc những thanh bằng liên tiếp cuối câu khiến cho những ý thơ cứ ngân vang mãi: "À cá trắng rêu rong nước trong/ À kiến trắng cây hoang rêu phong/ À chữ trắng gieo hoang đồng trăng...".

Chỉ biết những câu thơ thật đẹp, với những âm trắc hạn chế nằm trong những câu thơ thanh bằng, cất lên nghe như câu hát của tâm hồn thi sỹ: "Một mùa lên cao chơi vơi/ Một mùa diều non liu diu... Sóng cất lên đi bài ca không bờ/ Ta cất lên ta bài ca không mùa".

Tôi nhận ra anh là nhà thơ của rừng núi. Dẫu quê nội Hà Đông và quê ngoại Yên Bái thì Cao Bằng nơi anh sống hẳn đã len vào tâm hồn nhà thơ. Những câu thơ anh viết cũng trập trùng cao thấp, điệp trùng ý nghĩ và cảm xúc. Và thật đẹp như nơi anh đang sống. Nơi mà: "Ngọn bí ngọn bầu vươn qua lèn đá/ Đàn chim rơi hạt đỏ hạt hồng… Đồi nương trùng trùng/ Tiếng cây đi tiếng mây đi trong nắng/ Đàn sẻ ri bay bay im lặng/ Im lặng bay bay...".

Dày đặc trong thơ anh, đó chính là các mảnh ghép cảm xúc. Hay nói đúng hơn, mỗi câu thơ vẽ ra một tư thế cảm xúc, nó cứ hiện ra ngồn ngộn, dồn dập, khiến con chữ như trào lên mà cố gắng bắt kịp cảm xúc ấy. Đó là khi con mắt anh, thịt da anh, trái tim anh, hồi ức anh... cảm nhận thế giới quanh mình. Những câu thơ viết ra từ những cái chớp mắt của cảm nhận, liên tưởng, dù nhiều khi, tôi cảm giác có lẽ cảm xúc đó đến với Trần Hùng chỉ trong khoảnh khắc phần nghìn của giây.

Đó là cảm nhận của nỗi nhớ đông cứng, bóp nghẹt, ong ong: "Nhớ/ Nghẹn như nước thở trong đá/ Như bóng cây đêm thở trên tường/ Như xu xi canh cánh yêu thương/ Bay trên hoa vang vang". Đó có thể là cảm nhận một nỗi đau của sinh thể, sự chịu đựng hy sinh tận cùng mà nhà thơ đã hoá thân vào đó mới có thể biết được: "Mẹ cá đã mắc rồi/ Đôi mắt mở to như hạt sen trên bát sen/ Và dịu dàng trở mình theo sợi dây câu"... "Không thể tự do đau/ Bởi đàn cá con ly ty như những đốm máu/ Đang râm ri quanh mình...".

Trần Hùng thích nói cảm xúc của mình bằng tựa đề của một bài thơ. Đặt tên luôn cho bài thơ đó. Bạn hãy đọc tựa đề bài thơ để hiểu Trần Hùng đang viết gì. Anh nói với "bức tượng xuân" trong khát khao giao hoà với một cô gái có thật, bằng xương bằng thịt: "Nói đi em/ Rồi anh sẽ đưa em lên thiên nga đêm pha lê…Nói đi em/ Rồi anh sẽ đập cùng em một nhịp... Nhúng anh vào em/ Tan ra xuân đêm".

Và đây, tôi đọc bài "Dịu êm", một trong những bài thơ tôi rất thích trong "Mùa xa": "Tràn ngập căn phòng/ Tiếng ngáy/ Những cuốn sách trên giá sách nhìn tôi/ Những chiếc áo trên mắc áo nhìn tôi/ Tôi nhắm mắt nhìn lại/ Chúng tôi lặng im thấu hiểu sự công bằng".

Thế giới có công bằng không? Công bằng đấy chứ. Thi sỹ Trần Hùng nhìn thấy sự công bằng đó. Tôi nhìn cuốn sách. Không. Cuốn sách đang nhìn tôi đấy chứ. Những chiếc áo cũng đang nhìn tôi. Mà nào có phải ai cũng thấy sự công bằng này? Và anh thấy cả những mặt trái của sự công bằng đó, hay chính là sự tiềm tàng của vật chất, sự phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng. "Tôi nghe trong nhịp điệu này/ Ở một phương xa lắm/ Những bao kiếm quy hàng/ Những vỏ đạn nảy mầm/ Những ngón hồng lay nhẹ/ Tiếng sương từ đá lên...".

Không ai có thể bắt nhà thơ này giống nhà thơ khác. Mà cũng chẳng bao giờ giống được, vì thơ cũng như dấu vân tay. Ai cũng có cái tạng của riêng mình. Tôi tin, về điều này, nhà thơ là kẻ nhạy cảm vô cùng với cảm xúc. Hay thậm chí, hình như các nhà thơ đều là nô lệ của cảm xúc. Họ luôn bị giam cầm bởi chính tư tưởng của họ. Đến nỗi, họ không biết vì sao mình thao thức, không dứt ra được suy nghĩ của riêng mình. Họ loay hoay với điều họ trở trăn mà không bao giờ có câu trả lời thoả đáng. Và Trần Hùng, thi sỹ nhạy cảm đó cũng không ngoại lệ.

"Đêm/ Lại đêm/ Muốn tắt mình mà không công tắc".

Hà Tĩnh, 1-12-2019

Nguyễn Thị Hạnh Loan

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.