Nhà thơ Trần Hòa Bình: “Suốt đời làm một cây xương rồng nghèo khó”

Khi còn sống, không hiểu vì lý do gì, Trần Hòa Bình chưa kịp in cho mình một tập thơ riêng, trong lúc hàng trăm bài thơ của anh vẫn lặng lẽ nằm trong bản thảo và một số trong đó nằm trong ký ức của độc giả yêu thơ. Anh lười biếng và thích kiểu chơi "tài tử" với thi ca chăng?

Sau khi nhà thơ Trần Hòa Bình qua đời một năm, gia đình và bạn bè anh đã tập hợp các tác phẩm thơ, văn, phê bình - tiểu luận và báo chí của Trần Hòa Bình cùng các bài viết của bạn bè về nhà thơ để in trong "Tuyển tập tác phẩm Trần Hòa Bình", NXB Hội Nhà văn, 2009. Sách dày 900 trang. Trước đó, Trần Hòa Bình chưa in riêng một tập thơ nào. Nay ở cõi vĩnh hằng, anh đã có thể an lòng khi những bài thơ hay nhất của mình vẫn còn lại trong ký ức bạn bè và những người yêu thơ.

Khi còn sống, không hiểu vì lý do gì, Trần Hòa Bình chưa kịp in cho mình một tập thơ riêng, trong lúc hàng trăm bài thơ của anh vẫn lặng lẽ nằm trong bản thảo và một số trong đó nằm trong ký ức của độc giả yêu thơ. Anh lười biếng và thích kiểu chơi "tài tử" với thi ca chăng?

Theo tôi, hoàn toàn không phải thế. Đọc 150 bài thơ anh để lại và hàng trăm bài anh viết bình thơ của các tác giả khác trong "Tuyển tập tác phẩm Trần Hòa Bình", mới thấy anh cũng gắn bó thao thiết và trăn trở với thi ca nhiều lắm. Hôm mới đây, qua tìm hiểu người thân trong gia đình, tôi mới biết vì sao Trần Hòa Bình ngại in một cuốn thơ riêng cho mình. Đó là vì anh sợ khi nhìn thấy các cuốn thơ nằm lặng lẽ hàng năm trời ở các tiệm sách mà không bán được, trong khi người làm thơ vẫn đua nhau "sản xuất" thơ và in thơ đều đều.

Trong bài thơ "Mật khải" viết năm 1979, anh đã tâm sự với người mình yêu như sau:

Không có gì làm quà tặng em
Anh nghèo khó như một cây xương rồng hoang dã
Đừng nhìn anh với đôi mắt lạ
Gai thì đau và nhựa trắng đắng tê long
Anh không thích những loài hoa hừng hực
Nở dễ dãi trong vườn sau mỗi sớm mưa qua
Những bông hoa cúi mình là hái được
Vẫn ngày ngày người bọc giấy trao nhau
Suốt đời anh xin chịu đựng nỗi đau
Của một cây xương rồng nghèo khó
Nhưng em ơi nếu không có nó
Người ta sẽ hiểu lầm cát chẳng sống được đâu

Tự ví mình như cây xương rồng trên cát với nỗi niềm tự sự trong những lời mật khải nói trên, phải chăng nhà thơ trong cõi tĩnh lặng của tâm hồn mình đã nâng tình yêu lên thành một mỹ cảm tôn giáo của riêng thi ca anh. Bởi thế, thơ tình của Trần Hòa Bình luôn có những khát khao, dằn vặt, vụng dại, thấp thỏm nhưng cũng đầy kiêu hãnh như một thứ ánh sáng trong vắt đã nuôi dưỡng hồn thơ anh qua những bước thăng trầm của đời sống và tình người.

Bài thơ cuối cùng của Trần Hòa Bình là bài thơ tình "Khau vai". Khi viết bài này, nhà thơ không thể biết, chỉ mấy tháng sau, anh phải giã biệt cõi đời này. Nhưng đến giờ, khi đọc lại "Khau Vai", chúng ta chợt thấy hình như sự tiên cảm của nhà thơ đã hướng về cuộc chia tay cuối cùng của đời mình trong những câu thơ tình đầy xót xa, thương cảm: 

Nếu một mai mình không lấy được nhau
em có đi tìm anh
qua điệp trùng đá sắc
những Khau Vai bầm dập dấu chân người?

Trời ơi Khau Vai Khau Vai
nhìn qua nước mắt
bao bong bóng về trời
thương buồn gửi lại...

Những cuộc tình vụng dại
những cuộc tình khôn ngoan
đã sống và đã chết ở nơi này
không khôn ngoan không vụng dại
chỉ lặng chìm như đá
chỉ bời bời như mây

Chúng ta sa mộc chiều nay
em hai mươi thoắt thành ngàn tuổi
em có anh xa xót thế này sao?

Quỳ trước núi mà tin thôi em ạ
ai trong đời chẳng có một Khau Vai
nhọn sắc đá tai mèo
cứa vào thương nhớ

Hãy nhìn nhau nhìn nhau trước gió
em sẽ thấy một Khau Vai trong số phận chúng mình

Lần cuối cùng tôi gặp nhà thơ Trần Hòa Bình vào dịp Tết âm lịch đầu năm 2008 tại Ngày thơ Nguyên Tiêu tổ chức ở Trường Viết văn Nguyễn Du. Sau khi đọc thơ xong, mọi người rải chiếu, ngồi uống rượu trên sân trường. Tôi không ngờ 8 tháng sau bữa rượu ấy, anh đường đột ra đi. Tôi với Trần Hòa Bình, ngoài mối quan hệ bạn bè thơ ca, báo chí còn là người đồng hương cùng quê Xứ Đoài, nên cũng rất trân trọng tài năng, chí hướng của nhau.

Bữa rượu ấy, tôi vỗ vai thân mật bảo anh: "Hàng chục năm qua, cậu vẫn còn nợ "nàng thơ" của chúng ta một tập thơ đấy nhé! Đến bao giờ cậu mới trả xong món nợ tinh thần này?". Ấy là tôi nhắc khéo Trần Hòa Bình về việc mấy chục năm qua, anh cứ mải mê làm báo và lặng lẽ viết hàng trăm bài thơ mà không chịu in cho mình một tập thơ riêng. Bình lặng lẽ cười nụ nhìn tôi và bạn bè.

Nhưng không hiểu sao lúc ấy, tôi cảm thấy ánh mắt sau cặp kính cận dày cộp của anh có gì như đang đọng lại một nỗi niềm u ẩn chỉ mình anh biết và thao thức với nó.Thật không ngờ, đấy là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau.Vài tháng sau, tôi gặp hoạn nạn, rồi vài tháng sau nữa, nghe tin Trần Hòa Bình đột ngột ra đi mà tôi không thể nào về viếng tang anh được.

Giờ thì Trần Hòa Bình từ bỏ chúng ta đi đã chín năm. Trong một lần dự ngày giỗ anh, bạn bè và những người yêu mến anh đã trân trọng đón nhận từ phía gia đình nhà thơ "Tuyển tập tác phẩm Trần Hòa Bình" mà tôi đã nhắc ở đầu bài viết. Cầm trên tay cuốn sách nặng trĩu mà người nhận cũng thấy trĩu nặng một nỗi niềm thương tiếc người thơ tài hoa đã ra đi đường đột vào tuổi 53 khi bút lực đang còn sung sức. 

Sinh năm 1956 ở Sơn Tây, tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, trong suốt ba mươi năm cầm bút, Trần Hòa Bình là một gương mặt khá đặc biệt trong làng văn phía Bắc. Anh làm thơ, viết báo, viết phê bình văn học và giảng dạy tại khoa báo thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Theo tôi biết, trong số những bài thơ hay của các nhà thơ xuất hiện sau năm 1975 còn đọng lại trong trí nhớ của các độc giả, Trần Hòa Bình có hai bài thơ vào loại xuất sắc, đó là "Thêm một" và "Rượu đắng". Bài thơ "Thêm một" của anh đã được đưa vào nhiều tuyển thơ tình.

Trong bài viết này, tôi chỉ xin đề cập sâu về bài thơ "Rượu đắng" mà tôi cho rằng, đây là bài thơ hay nhất của Trần Hòa Bình. Trong bài thơ này, phẩm chất thi sĩ đặc biệt của anh vụt lóe sáng lên như một ánh trăng trước khi biến mất vào đêm thẳm. Không hiểu sao tôi cứ thấy day dứt, buồn mãi khi đọc mấy câu thơ sau trong bài thơ "Rượu đắng" của Trần Hòa Bình:

Trăng vứt bên trời không ai biết
Thế gian lo mải chuyện ngày thường
Sông còn chảy mãi chưa buồn hết
Sông giống câu thơ viết nửa chừng

Buồn, rồi lại thấy chạnh lòng vì thương anh, vì biết anh ví mình như mảnh trăng bị bỏ quên lặng lẽ bên thềm trời thi ca thăm thẳm:

Thơ chưa ráo mực, ta xin đọc
Sao sớm già nua tiếng gượng cười?
Thôi thì đã ví cùng trăng ấy
Giật tóc mà ca khúc "cử bôi"!

Vốn là một nhà "thất bại lão thành" trong tình yêu (mấy nhà thơ chúng tôi vẫn đùa trêu anh như vậy), Trần Hòa Bình sau khi chia tay với người bạn đời là ca sĩ Quỳnh Liên, anh đã sống cô đơn tới cuối đời để chăm sóc cô con gái duy nhất của mình.

Trong ngày giỗ đầu anh, cô con gái Trần Hà Trang nói với tôi: "Hôm qua, trong giấc ngủ, cháu thoáng nằm mơ thấy bố về, bố cháu bảo: Con gái giống như một cây đu đủ, nó thích mình treo mọi thứ toòng teng lên người nó. Con gái cũng giống như một cây thông Nô-en, nó muốn mình treo mọi thứ ước mơ lên đấy". Trang cho biết, cháu ở một mình với bố từ năm lên 6 tuổi, nên bố cũng vừa là người mẹ vừa là người bạn. Mọi buồn vui, giận dỗi, mơ ước của Trang đều được bố Bình chia sẻ. Năm 22 tuổi, sau khi tốt nghiệp đại học, Trang đi làm được một tháng thì bố qua đời.

Bạn bè tới dự ngày giỗ Trần Hòa Bình, ai cũng thấy se lòng khi mấy chục năm qua, hai bố con anh vẫn sống trong căn nhà cấp 4 cũ kỹ trong khu tập thể của Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Tuy làm giảng viên đại học báo chí, anh vẫn phải cặm cụi viết báo để kiếm sống.

Có ai đấy bảo Trần Hòa Bình lãng tử và ham chơi, nhưng nhìn lại cả một khối lượng đồ sộ tác phẩm văn chương và báo chí mà anh để lại trong gần 30 năm cầm bút, mới thấy được chuyện: Viết với anh là một nhu cầu sống và như người xưa vẫn nói "cơm áo không đùa với khách thơ". Ngày giỗ anh, bạn bè uống rượu đắng, thứ rượu anh thường uống trong suốt cuộc đời thi nhân của mình:

Thương nhau thì uống ly rượu đắng
Phảng phất men trăng tỏa khắp người
Lô nhô lều quán đêm chợ vắng
Chẳng biết còn ai thiếu chỗ ngồi

(Rượu đắng)

Mấy câu thơ trên của Trần Hòa Bình có lẽ đã mang trong mình một phần cái "khẩu khí" ngang tàng lồng lộng và xa xót thương đời của thi sĩ Tản Đà, người đã đặt viên gạch đầu tiên cho ngôi - nhà - mới của thi ca Tiền chiến (1930-1945). Tâm sự với bạn bè, anh vẫn thường tự hào mình là người con của Xứ Đoài, là người đã được ăn "hỏa hồng" của tổ tiên vì đã được sinh ra ở Sơn Tây, vùng đất văn hiến với hai nhà thơ "vang bóng một thời" là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và Quang Dũng. Và dường như, trong hơi thơ của Trần Hòa Bình cũng phảng phất nét hào hoa, tinh tế và sâu lắng của hai thi nhân này:

Uống thêm chút nữa đừng e ngại
Tiền thiếu từ khi mới lọt long
Thơ nát dăm bài còn mê mải
Tản Đà chẳng biết giống mình không

(Rượu đắng)

Đến hôm nay, điều mơ ước mà Trần Hòa Bình chưa làm được lúc anh còn sống là in một tuyển tập thơ - văn đã được gia đình và con gái anh hoàn thành. Ngày giỗ anh, bạn bè đông đủ cả và mọi người nâng chén hướng về miền thi ca thăm thẳm, nơi anh từng ví mình như mảnh trăng bị bỏ quên, vẫn lặng lẽ sáng bên trời đêm ấy. 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.