Nhà thơ Tố Hữu với văn hóa dân tộc

Đây là đề tài mà tôi ấp ủ từ lâu, xuất phát từ lòng kính yêu, ngưỡng mộ một tài năng, một nhà cách mạng nổi tiếng, một nhà thơ kỳ tài đã có những đóng góp rất lớn cho nền văn học dân tộc, một danh nhân văn hóa, một nhà thơ có ảnh hưởng rất sâu sắc trong lòng nhân dân Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Trong cuộc đời làm văn hóa văn nghệ của mình, tôi đã đọc nhiều bài thơ, nhiều bài viết của Tố Hữu và hơn thế nữa, tôi còn nhiều lần được trực tiếp đàm đạo về văn hóa dân tộc với nhà thơ Tố Hữu, khi thì ở các cuộc hội nghị, hội thảo, lúc thì ở nhà riêng của ông. Tôi đã ghi âm, ghi hình được một số cuộc nói chuyện của Tố Hữu về văn hóa dân tộc, kể cả luận văn tốt nghiệp của đồng chí Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư viết về thơ Tố Hữu cách đây gần 50 năm). Tôi coi đây là tài liệu quý có thể giúp ích cho đời và cho mình.

Vì yêu quý tôi, nên nhà thơ Tố Hữu đã tặng cho tôi hầu hết những tập thơ và quyển sách của ông và trước khi "đi xa", ông có dặn người nhà rằng: "Hãy bảo Hoàng Chương hay Hữu Thỉnh đến chụp ảnh, ghi hình ngôi nhà 76 Phan Đình Phùng để làm kỷ niệm..." (lời bà Vũ Thị Thanh - phu nhân của nhà thơ Tố Hữu nói lại). Tôi cũng đã từng đưa nhà thơ Tố Hữu đi thăm nhiều nơi, trong đó có nhà máy hóa chất Lâm Thao, nhà máy giấy Bãi Bằng và trực tiếp nghe ông nói chuyện cho 500 cán bộ, công nhân viên ở đây nghe về Bác Hồ, về văn hóa dân tộc và về thơ của mình.

Nhà thơ Tố Hữu và vợ - bà Vũ Thị Thanh.
Nhà thơ Tố Hữu và vợ - bà Vũ Thị Thanh.

Qua buổi nói chuyện và đêm giao lưu ở Bãi Bằng (Phú Thọ), tôi càng thấy được tình yêu thơ Tố Hữu và sự ngưỡng mộ Tố Hữu của giai cấp công nhân như thế nào. Gần 100% công nhân thuộc thơ Tố Hữu dù ít hay nhiều. Có người còn lắp ghép tên những bài thơ Tố Hữu thành một bài lục bát rất dài và khá hay. Ở đâu, Tố Hữu cũng nói về lãnh tụ, nhà văn hóa vĩ đại Hồ Chí Minh và nói về thơ ông là thơ dân tộc, mang tâm hồn dân tộc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Nhắc tới Tố Hữu là người ta nghĩ tới nhà thơ cách mạng hàng đầu của dân tộc, Tố Hữu là nhà thơ Cách mạng hàng đầu, thế nhưng không phải ai cũng hiểu được tài năng và sự cống hiến to lớn của ông cho Cách mạng, cho nhân dân. Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, được Đảng, Bác Hồ trao nhiệm vụ phụ trách văn hóa, tư tưởng trong các thời kỳ khó khăn nhất, đó là kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược.

Nền văn nghệ cách mạng đã vượt qua bao gian nan thử thách và phát triển không ngừng từ đội ngũ đến tác phẩm văn học nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dân tộc là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mà người trực tiếp chỉ huy, điều hành là nhà thơ Tố Hữu, một tài năng thơ kiệt xuất, một nhà chính trị sắc sảo đã từng là Ủy viên Bộ Chính trị, từng là Phó Thủ tướng thường trực trong thời kỳ đất nước gặp khó khăn nhất về kinh tế, nhưng thơ ông không dứt mạch truyền thống, cho nên không ngần ngại gì khi gọi Tố Hữu là một nhà thơ thiên tài, một danh nhân văn hóa.

Cả một chặng đường dài từ Việt Bắc đến Hà Nội, Tố Hữu được sống gần Hồ Chủ tịch và các nhà lãnh đạo tài ba như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, ông còn kết thân với các danh tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh nên tài năng và tư tưởng về văn hóa dân tộc trong ông càng đậm đà, càng tỏa sáng. Điều đó thể hiện rất rõ ở hội nghị Việt Bắc cuối năm 1951, Tố Hữu đã đứng trên lập trường của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh mà bảo vệ nghệ thuật truyền thống của dân tộc, trong khi nhiều ý kiến kết tội tuồng, chèo, cải lương là di sản của giai cấp phong kiến phản động, nên các hình thức nghệ thuật quý giá này đã bị cấm diễn trong một thời gian dài sau Cách mạng Tháng Tám 1945.

Tại hội nghị này, nhà thơ Tố Hữu đã nói đầy thuyết phục với nội dung: "Tuồng, chèo, cải lương là nghệ thuật dân tộc do nhân dân lao động Việt Nam sáng tạo ra, đó là món ăn tinh thần của nhân dân, cần trả lại cho nhân dân để cho nhân dân tiếp tục sáng tạo và hưởng thụ". Từ đó, hàng trăm nghệ nhân, nghệ sĩ tài năng trên khắp đất nước được trở lại hành nghề. Các loại hình nghệ thuật dân tộc: Tuồng, chèo, cải lương như rừng hoa héo hắt sau những ngày nắng hạn, bỗng gặp được mưa rào, nên đã đâm chồi nảy lộc trổ hoa một cách ngoạn mục. Tiếng trống tuồng, tiếng trống chèo lại rộn rã vang lên khắp xóm làng và ở các trận địa đánh Pháp, đánh Mỹ, đời sống văn hóa của quân dân ta trở lại vui tươi khởi sắc...

Giới văn nghệ Việt Nam nói chung và nghệ thuật sân khấu truyền thống nói riêng biết ơn Đảng, biết ơn Bác Hồ và biết ơn nhà thơ Tố Hữu trong sự nghiệp bảo tồn, phát huy và phát triển nghệ thuật dân tộc, để đến hôm nay, một số loại hình như Nhã nhạc Cung đình, Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù, hát xoan - Phú Thọ, đờn ca tài tử Nam bộ, Ví giặm Nghệ Tĩnh đã được UNESCO công nhận là di sản, văn hóa phi vật thể của nhân loại và sắp tới, nghệ thuật Bài chòi và một số loại hình nghệ thuật dân gian khác cũng sẽ được UNESCO vinh danh.

Bây giờ, đọc lại những bài viết, bài nói, kể cả thơ của Tố Hữu và suy ngẫm thật kỹ mới thấy hết tư tưởng, quan điểm, tâm hồn của Tố Hữu luôn luôn thể hiện lòng tự hào dân tộc nói chung và văn hóa dân tộc nói riêng. Ví dụ bài "Câu chuyện cây đàn bầu", Tố Hữu đã phân tích rất sâu về tính dân tộc, tâm hồn dân tộc trong cây đàn bầu, một nhạc cụ độc nhất vô nhị của Việt Nam, mang bản sắc, tâm hồn Việt Nam rõ nhất.

Ông nói: "Trước khi có đàn Tây" thì đã có đàn ta. Bốn ngàn năm ông cha sống bằng đàn ta... Âm nhạc dân tộc là cái gì đấy làm nên cuộc sống tâm hồn dân tộc... Hoặc, sau khi xem vở ca kịch Bài chòi "Thoại Khanh - Châu Tuấn", Tố Hữu đã phân tích giá trị đạo đức, tư tưởng nhân văn trong tác phẩm đậm đặc chất dân gian này.

Tố Hữu nhấn mạnh: "Nàng Thoại Khanh là hình ảnh của những người vợ có chồng đi tập kết, luôn luôn giữ lòng chung thủy với chồng, dù phải trải qua bao sóng gió, khổ đau... và chàng Châu Tuấn là hình ảnh của những cán bộ tập kết, những người chồng điển hình, về tình yêu chung thủy của văn hóa Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào, chức quyền, tiền tài, gái đẹp cũng không lay chuyển nổi tình nghĩa sắc son, chờ ngày sum họp Bắc Nam, sum họp gia đình. Đó là đạo lý dân tộc Việt Nam, là văn hóa dân tộc Việt Nam cần phát huy đúng mức".

Là nhà văn hóa uyên thâm, mang nặng tâm hồn dân tộc, Tố Hữu đồng thời là nhà lãnh đạo văn hóa xuất sắc, luôn luôn có cái nhìn văn hóa với cặp mắt tinh tường trên nền tảng dân tộc. Ông luôn phát hiện những nét tinh hoa trong di sản văn hóa dân tộc, hoặc trong những tác phẩm nghệ thuật sân khấu đương đại mà đôi khi những người bình thường không phát hiện được.

Ví dụ, khi đến Nhà hát Lớn Hà Nội xem vở tuồng "Quang Trung đại phá quân Thanh" (tháng 2 năm 1980), ông lập tức phát hiện tầm cao tài năng của hai người phụ nữ kiệt xuất là: Bùi Thị Xuân và Ngọc Hân Công chúa trong vở này và ông đề nghị nên sáng tác những vở riêng về Bùi Thị Xuân và Ngọc Hân Công chúa. Từ gợi ý hay của Tố Hữu, không lâu sau, một số vở tuồng về "Đô đốc Bùi Thị Xuân" và "Ngọc Hân Công chúa" đã ra đời được khán giá hoan nghênh.

Là nhà lãnh đạo văn hóa, tư tưởng của Đảng, đồng thời là nhà thơ cách mạng hàng đầu có tầm nhìn văn hóa, có một tình yêu thiết tha nghệ thuật dân tộc, Tố Hữu đặc biệt quan tâm tới mọi hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhất là nghệ thuật dân tộc. Nhiều hôm, ông mời chúng tôi tới nhà riêng để trao đổi về vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống. Những lúc đó ông nói rất say sưa về nghệ thuật tuồng, chèo, cải lương và dân ca. Ông rất ghét nghệ thuật lai căng. Luận điểm của ông về văn hóa dân tộc đầy thuyết phục.

Những buổi kỷ niệm, hội thảo về các danh nhân như Nguyễn Huệ - Quang Trung, Bác Hồ, Đào Tấn, Tố Hữu đều đến dự. Hôm kỷ niệm 150 năm sinh danh nhân Đào Tấn tại Nhà hát Lớn Hà Nội và hội thảo "Mối quan hệ giữa gia đình Bác Hồ với Đào Tấn" tổ chức tại hội trường Bộ Văn hóa, Tố Hữu là người đến sớm nhất vì ông rất kính phục tài năng của Đào Tấn. Ông gọi "Đào Tấn là ông vua tuồng". Ông phân tích rất sâu về giá trị của những tác phẩm tuồng và thơ của Đào Tấn, giúp cho chúng tôi hiểu sâu hơn tư tưởng, tài năng của những nghệ sĩ tiền bối.

Dường như Tố Hữu sợ chúng tôi chưa thật sự yêu, chưa thật hiểu về di sản của dân tộc, nên ông không tiếc công, tiếc sức, tiếc thời gian nói cho chúng tôi nghe, làm cho chúng tôi hiểu, bởi thực tế không phải ai cũng yêu, cũng hiểu về di sản văn hóa của tiền nhân, đặc biệt là nghệ thuật dân gian, truyền thống. Vì vậy mà đã có nhiều địa phương, nhiều đơn vị nghệ thuật để cho tuồng, chèo, cải lương bị mai một, bị mất gốc, lai căng, để đến hôm nay phải bỏ biết bao công sức phục hồi, nhưng làm sao phục hồi được những di sản quý nhất, những sáng tạo đặc sắc nhất của các thế hệ tài năng tiền bối!

Điều này có thể thấy rõ qua các hội diễn sân khấu truyền thống, không những miếng nghề đặc sắc bị mai một, mà tiếng hát cũng không được hay như xưa, mặc dù ngày nay đời sống vật chất có cao hơn ngày xưa rất nhiều lần. Mới đây, cuộc Liên hoan tuồng Tống Phước Phổ tại Đà Nẵng, cả chuyên nghiệp và không chuyên, đoàn nào cũng rực rỡ về trang phục, nhưng diễn xuất và ca hát thì không bằng các nghệ nhân ngày xưa. Sự mai một thất truyền trong nghệ thuật truyền thống là hiện thực mà nhà thơ Tố Hữu đã cảnh báo từ lâu.

Hoàng Chương

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...