Nhà thơ Thi Hoàng: Khuôn mặt như ngọn đèn vặn nhỏ

Năm 1963, chàng trai 20 tuổi Hoàng Văn Bộ viết những câu thơ khởi nghiệp ký bút danh Thi Hoàng. Đứng trong đội ngũ những người tình nguyện sứ mệnh vừa làm thơ vừa đánh giặc đặc thù của một giai đoạn văn học Việt Nam, Thi Hoàng trăn trở "có lúc tôi khùng lên xua đuổi chủ đề/ nhưng chủ đề như một gã đùa dai/ cứ lén đến nằm ườn lên tác phẩm". 

Từ trong dàn đồng ca, Thi Hoàng bật ra không ít lời thơ vang dội, mà hai câu "cây cứ biếc như vặn mình mà biếc/ trời thì xanh như rút ruột mà xanh" trong bài "Giữa cây và nền trời" vẫn được nhiều người xưng tụng. Tuy nhiên, hãy hỏi, sao cái sự biếc lại vật vã thế, sao cái sự xanh lại đau đớn thế?

Nào đâu phải riêng thiên nhiên, mà chính nhà thơ trong câu thơ ấy cũng làm một cuộc vượt thoát cam go khỏi từ trường chữ nghĩa minh họa sản xuất và miêu tả sự việc. Ý thức khác biệt giúp Thi Hoàng có thêm một dấu son nữa để nổi danh giữa thế hệ nhà thơ trưởng thành cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Bài "Thành phố những cánh buồm - mùa hè - cửa bể" không chỉ lạ nhờ cách đặt tên mà còn nhờ hình ảnh "cơn gió đất đưa ta qua đầu sóng/ vạt buồm muốn kéo cả bờ đi".

Năm 1976, tập thơ đầu tay "Nhịp sóng" được ấn hành, khép lại một thời Thi Hoàng trẻ trung làm thơ tùy hứng. Với ưu điểm sử dụng ngôn ngữ tạo cảm giác mạnh, Thi Hoàng liên tục quẫy đạp qua các tập thơ và trường ca "Ba phần tư trái đất", "Gọi nhau qua vách núi", "Bóng ai gió tạt", "Cộng sinh với những khoảng trống", "Chìm vào mật nóng"...

Có đôi lúc bàn chân thơ của Thi Hoàng bước chới với sang miền cách tân hụt hẫng "tôi làm thơ theo kiểu/ tát cạn bắt lấy thôi/ cho đến khi bắt được/ thì câu thơ chết rồi", vẫn thấy nghiêng ngả một bóng dáng khát khao sáng tạo. Theo logic tâm lý học, khi con người khước từ bản năng bầy đàn thì dễ nảy sinh hai thái cực, hoặc tôn thờ sự nổi loạn, hoặc sùng bái sự cầu kỳ.

Trước tiên, Thi Hoàng tự đứng riêng bằng giọng điệu dữ dội "ai đang hát trong mưa, nước như băm như thái... ai đang hát trong mưa, nước như véo như tát", hoặc "tiếng hát em một thời vón vào trong viên đạn/ mặt kẻ thù tắt lịm sau bờ cây", hoặc "em làm cao sang viên gạch lát vỉa hè/ làm rực rỡ, bồn chồn những giọt máu đã hy sinh, mất mát/ làm mảng nắng dưới chân tường ngây ngất", thỉnh thoảng lại pha thêm chút lý sự "giữa muôn nghìn cái riêng trong con người có một cái chung/ là trái tim không chịu được sự lạnh lẽo và hoang vắng" hoặc "giờ thì ta khóc đây, nước mắt làm dịu đi khi vật chất nổi khùng/ khi tinh thần bị vặn hết răng không nhai được món ăn cảm xúc/ khi đồng tiền định ăn hiếp trái tim trong túi ngực".

Chính Thi Hoàng nhận ra yếu điểm cũng là điểm yếu của mình "chữ nghĩa gườm gườm như thời trang hầm hố/ triết học mọt nghiến vào thớ gỗ/ thơ gieo vần kèn kẹt thế kia ư", và thay đổi bằng giọng điệu lắt léo "mặt trời lặn sang bên kia vạt áo/ con đường miên man leo ngược lên trời/ vòm chiều chín đầy những lời khuyên bảo" hoặc "ai đang lùng sục trong xương cốt/ nhức buốt lần mò đi hành hương/ ta thấy ta ngày càng nhỏ tắp/ như chân nhang cắm mả bên đường" hoặc "hoa phượng đỏ lúc nào không biết nữa/ kim phút thụ thai, kim giờ có chửa/ vã mồ hôi những sản phụ đồng hồ/ đẻ ra quái thai cái-vẻ-mặt-thờ-ơ".

Quá trình chuyển tiếp giọng điệu dữ dội sang giọng điệu lắt léo, Thi Hoàng có được vài câu thơ đáng nhớ "mắt em ngước lên như mặt nước ao đầy" hoặc "những sắc màu đánh nhau trên cánh bướm". Cuộc truy đuổi bút pháp cá nhân có không ít khúc quanh nhọc nhằn, Thi Hoàng cam kết khi "xin phép xuất bản" khá sòng phẳng: "Tôi có lý tưởng hẳn hoi/ và tôi yêu Tổ quốc/ điều này làm tôi vững tâm/ vật gì trong tầm tay tôi, tôi có thể dám cầm/ dẫu vật ấy có khi là thuốc nổ/ xin người yên tâm, xin người đừng sợ/ kẻ tan thây trước hết sẽ là tôi".

Thử làm một độc giả thiện chí đi cùng nhà thơ "tôi sinh ra dưới cánh hải âu/ cái cuống rốn vùi trong cát mặn" cũng hơi cay cực "thơ đọc nhọc khóc róc nước mắt", nhưng luôn được đền bù tương đối xứng đáng. Bởi lẽ, Thi Hoàng thường có những câu thơ đột sáng cứu vớt cả đoạn thơ hoặc cả bài thơ. Ví dụ, trong trường ca "Gọi nhau qua vách núi" bên cạnh phẩm chất con người đất cảng khốc liệt "thành phố đàn bà yêu như độc ác/ nổi cơn ghen chém xả bả vai chồng/ thành phố nghênh ngang, thành phố đàn ông/ hất hàm chào nhau đá vỏ đồ hộp" thì một góc Hải Phòng hiện ra đẹp bảng lảng, đẹp xa vắng: "dấu nhật ấn trên con tem bưu điện/ gửi về đâu địa chỉ tuổi lên mười/ gửi cho ai mái phố gió bời bời/ gửi cho ai những ngày thừa, khoảng trống/ một đầu đường chẳng có ai trông ngóng/ một buổi chiều không biết cất vào đâu".

Đường thơ Thi Hoàng dẫu lô nhô gạch đá gây gổ và dẫu ngổn ngang hố hầm dọa nạt "gió mây chờn vờn nôn mửa thốc tháo/ mắt ti hí mặt trời nhìn đứt cuống họng/ tiếng kêu ném đá vào ruột gan", thì vẫn thấy lấp lánh những hạt vàng tài hoa.

Sự tinh tế trong thơ Thi Hoàng có thể chia làm ba cấp độ. Thứ nhất, sự tinh tế có yếu tố quan sát "những con cá khô phơi trên đá trên hè/ dường như chúng nghỉ ngơi rồi chốc nữa lại về biển cả" hoặc "nhìn tấm lưng biết có một người tốt đi qua/ ở người ta có khi cái lưng nói nhiều hơn cái mặt/ sự nhân ái giả vờ thường chường ra phía trước/ nỗi nhẫn nhịn thương người lại hay ẩn đằng sau".

Thứ hai, sự tinh tế có yếu tố suy tưởng "Năm 1954 - Vĩ tuyến 17/ mỗi chúng tôi đều bị cưa ngang/ chiếc thắt lưng vẫn thắt bình thường đột nhiên cứ làm mình ghê rợn/ đến một sớm mai ra/ nửa dưới hoặc trên thân thể sẽ không còn" hoặc "hoa sen không định thơm/ không định thơm thì mới thơm như thế/ rất tự nhiên là ta nhớ mẹ/ mẹ quá xa rồi/ để ta thành con cái của làn hương" hoặc "chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất/ làm được buổi chiều rất giống ban mai/ thánh cũng hân hoan... đố ai biết được/ Ngài ở trong kia hay ở ngoài này".

Thứ ba, sự tinh tế có yếu tố xuất thần, ở vùng đệm giữa có và không, giữa hư và thực, Thi Hoàng níu giữ được những khoảnh khắc chỉ cần chớp mắt sẽ biến mất, đó là "Nỗi niềm" thoáng đưa "trong nhà ngoài sân bây giờ/ toàn những khoảng không không có mẹ/ khoảng không ơi khoảng không/ khoảng không không che ai khuất cả/ sao khoảng không che mất mẹ ta", đó là phút giây "Lang thang ở Cúc Phương" xanh thẳm "cứ như đi vào những ngày không có trong đời mình/ những ngày trời cho thêm không tính vào tuổi thọ", đó là ham muốn "X-quang" bản thân  "mẹ càng hiền lành hơn sau ngày mẹ mất/ mơ thấy mẹ vá áo cho con ngay lúc con đang mặc/ không phải cởi ra đâu, sợ áo nhạt hơi người".

Thi Hoàng thừa hiểu "cái đẹp nhiều khi cũng oái ăm/ cầu toàn quá hóa ra mù tịt", nhưng vận động là nhu cầu đeo bám nhà thơ đích thực. Thi Hoàng tìm ra lời giải đáp ngay trong sự loay hoay. Thi Hoàng phát triển thơ theo hai hướng. Một hướng chao chát kỹ thuật, kiểu như "mê mướt gió se môi chiều cắn chỉ/ cây im nước lặng mắt em mềm/ vạt nắng ứa hiên nhà từ duy mỹ/ nhẹ nhàng sang duy cảm tóc em đêm" hoặc "nghe chó sủa vầng hào quang quáng gà/ hoàng hôn chua cay vẩn đỏ một chân trời tương ớt/ miệng vết thương lên cao vút một giọng ca nhói buốt/ tôi leo lên theo cái giọng ca kia nhìn xuống vết thương mình".

Một hướng thô ráp đời sống, kiểu như "biến cái đẹp thành cái ăn/ mang giá trị thâm canh như đồng tiền rách nát/ lấy biên lai ở cửa hàng danh vọng/ về thanh toán với con tim, về đòi nợ hoa hồng" hoặc "tôi cũng từng được chia quỹ đen được phần sổ đỏ/ góp bâng quơ để dây máu ăn phần/ cũng đem ra nắng vàng phơi phóng chút vinh quang đến Tây đen cũng đỏ mặt/ xin mang nỗi ngượng ngùng bón xuống đất/ mang tinh thần vô cơ thành vật chất hữu cơ/ trồng một vạt rau xanh mơ ước".

Thi Hoàng rất dụng công cho thơ. Mỗi bài thơ đối với Thi Hoàng như một cơ hội xây dựng hình tượng, hoặc như một cơ hội chau chuốt ngôn từ. Thi Hoàng chấp nhận luật chơi "chữ với nghĩa đi tìm nhà trọ/ sống thử với nhau xem có thành bài thơ/ đã có thuốc tránh thai như là thi pháp/ cãi hộ cho ta những xúc động giả vờ".

Thi Hoàng có những câu thơ khiến công chúng ngỡ ngàng như chứng kiến các clip quảng cáo cưỡng bức thị trường tiêu dùng. Có thể biện luận "những bình minh i-nốc, những hoàng hôn ni-lông" cũng là một cách khai thác sự huyên náo để chống lại sự thờ ơ. Tuy nhiên, phải xác định thẳng thắn rằng, sự cường điệu chỉ giống như liều thuốc gây mê tạm thời, mà khi bạn đọc sực tỉnh không thể tìm ra hồn vía thi ca.

Những câu thơ như  "đóng đinh vào những sự tình/ đau thon thót rót cho mình tiếng chim" hoặc "sông thả lỏng một nỗi buồn mướt mượt/ sau vai đê khói vờn lên não nuột" mang đến cảm giác hào nhoáng chốc lát, rồi lộ ra một thủ thuật tuyệt vọng nhằm che đậy trí tưởng tượng đang bị trượt ngả trước bờ vực chai lỳ rung động thẩm mỹ.

Thao tác làm thơ của Thi Hoàng chẳng khác gì một người câu cá chuyên nghiệp. Có khi cao hứng, Thi Hoàng cứ mài giũa lưỡi câu sao cho thật nhọn hoắt, sao cho thật sáng choang, khiến bao đồng nghiệp vị nể mà đàn cá cũng... hoảng sợ. Và khi một lưỡi câu có nét lóng lánh của một... cây kim, chắc chắn không câu được con cá nào. Ngược lại, khi Thi Hoàng trễ nải dùng lưỡi câu giản dị thi sĩ của mình, thì được lắm con cá thơ hay. Ví dụ, hai bài thơ đều viết về sông Thương và đều ghi tặng một người, nhưng bài "Về lại sông Thương" thong thả "ngày xưa anh đâu có biết/ bây giờ anh đâu có hay/ đôi bờ tre pheo phờ phạc tháng ngày/ khuôn mặt ai như ngọn đèn vặn nhỏ", còn bài "Về sông Thương mà chẳng ghé thăm em" lại ầm ĩ "sông Thương ơi, sông Thương! Anh gọi ngậm/ Khúc kia giờ ơ... đoạn này giờ ơ... nghe chợt (Uỵch, boong, uỵch, boong uỵch, cheng cheng kịch/ Rốc ấy em à, quát mắng ngày xưa". Đặt cạnh nhau càng thấm thía, bài "Về lại sông Thương" được một câu thơ thổn thức "khuôn mặt ai như ngọn đèn vặn nhỏ", còn bài "Về sông Thương mà chẳng ghé thăm em" thừa một câu thuyết minh rộn ràng "rốc ấy em à, quát mắng ngày xưa".

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.