Nhà thơ Thanh Quế: Những trang văn từ máu và nước mắt!

Nhà thơ Thanh Quế thuộc dạng “gừng càng già càng cay”, càng lớn tuổi viết càng nhiều, càng hay. Ông là tác giả của hơn 40 tập thơ, truyện ngắn, bút ký, chân dung văn học, được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học – nghệ thuật năm 2012. Ông vừa cho ra mắt tập thơ mới “Nơi phòng đợi” khá ấn tượng. Tôi có cảm giác trang văn của Thanh Quế được kết tinh từ nước mắt của chính ông và máu thiêng của đồng nghiệp thân thiết đã hy sinh.

Người xứ Nẫu lãnh đạo văn nghệ xứ Quảng

Nhà thơ Thanh Quế họ Phan, sinh năm 1945 ở Tuy An - Phú Yên, tập kết ra Bắc học Trường học sinh miền Nam ở Hà Đông, tốt nghiệp Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, vào chiến trường Khu 5 tham gia chiến đấu từ năm 1969. Sau ngày đất nước thống nhất, ông sống cùng gia đình ở Đà Nẵng, nhưng luôn gắn bó với quê hương Phú Yên. Có lúc ông ra Hà Nội làm biên tập thơ cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tưởng chừng ở luôn thủ đô. Nhưng rồi ông lại bất ngờ quay trở về Đà Nẵng.

Nhắc đến Thanh Quế mọi người thường nhớ đến hai câu thơ “Trước nhà em sông Vu Gia/ Sau nhà em cũng lại là dòng sông” trong bài thơ “Trước nhà em sông Vu Gia” ông viết tặng cho một người đẹp đất Quảng từ thời còn chiến tranh. Cô gái ấy về sau trở thành người bạn đời chung thuỷ của ông. Và có lẽ cũng vì mối lương duyên ấy mà ông không trở về Phú Yên, chọn Đà Nẵng làm quê hương thứ hai của mình.

Ở xứ Quảng nhưng giọng nói nhà thơ Thanh Quế vẫn rặt xứ Nẫu. Cả tính cách con người và khí chất thơ cũng vậy. Người xứ Nẫu gặp ông thấy rất Phú Yên. Còn người xứ Quảng thì xem ông thực sự là của Đà Nẵng. Có bạn văn còn bảo, sẽ thật trống vắng nếu mai đây Đà Nẵng không còn thấy một người nhỏ con chuyên đội mũ bêrê, áo bỏ trong quần gọn gàng, đạp xe chầm chậm thảnh thơi trên đường phố đến với anh em ở Hội Văn nghệ. Hiền lành và thẳng thắn, bộc trực và bao dung, nhà thơ Thanh Quế được đồng nghiệp các thế hệ ở Đà Nẵng tin yêu, nể trọng.

Chẳng những “tạm trú” mà nhà thơ chân chất xứ Nẫu còn trở thành lãnh đạo chủ chốt văn nghệ xứ Quảng “hay cãi”. Ông còn từng là Phó Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Đất Quảng, Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn TP Đà Nẵng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Non nước. Ông đã góp phần phát hiện, nâng đỡ nhiều cây bút trẻ xứ Quảng thành danh như Nguyễn Kim Huy, Hồ Trung Tú, Bùi Tự Lực, Nguyễn Tam Mỹ,… đồng thời còn che chở giúp họ vượt qua nhiều “tai nạn” văn chương.

Nhà thơ Thanh Quế sống ở khu chung cư trước đây vốn là Trại sáng tác của Quân khu 5 tại Đà Nẵng. Tháng trước, tôi cùng nhà văn Trần Văn Tuấn và nhà thơ Phạm Sỹ Sáu đến thăm, nhà thơ Thanh Quế hồ hởi ký tặng chúng tôi hai tác phẩm mới xuất bản: “Bút ký & chân dung chọn lọc” và tập thơ “Nơi phòng đợi”. Ông bảo, một cuốn cung cấp nhiều tư liệu quý, một cuốn các bạn trẻ đọc để biết thơ… người lớn tuổi!

Từ cười xoà đến cười mỉm

Thời chiến tranh, nhà thơ Thanh Quế có bài thơ “Thăm chồng” viết tháng 1-1973, được nhiều người yêu thích. Bài thơ 7 chữ gồm 24 câu kể chuyện một chị cán bộ binh vận xã Hoà Định Đông bấy giờ thuộc huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên “lặn lội trèo non đi thăm chồng”, với con nhỏ bồng trước ngực và gùi bánh ngọt sau lưng. Anh chồng bộ đội vừa thắng trận, được cấp trên cho nghỉ phép đôi ba ngày để đón vợ con cách xa đã mấy năm. Trong lúc “Anh chồng ôm con hun chùn chụt” thì chị vợ đon đả pha trà, sắp bánh ngọt bưng ra mời đồng đội của chồng. Câu chuyện tưởng chẳng có gì nếu như không có khổ thơ cuối đầy bất ngờ:

Lính ta vui bữa liên hoan ngọt
Thơm má thằng cu kêu chút chút
Khi ngoảnh lại nhìn hai vợ chồng
Họ đã biến đi đằng nào mất.

Thơ Thanh Quế là vậy, ngôn ngữ mộc mạc, cấu tứ chặt chẽ, bất ngờ và hóm hỉnh. Càng về sau này thơ ông càng kiệm lời, nhưng vẫn luôn dựng tứ kỹ càng, ý tưởng hàm súc, thấm đẫm triết lý nhân sinh. Sau này, thơ ông không còn những nụ cười xòa như trong bài “Thăm chồng”, thay vào đó là những nụ cười mỉm đớn đau day dứt. Tập thơ “Nơi phòng đợi” có những bài thơ rất ngắn như châm ngôn sắc sảo. Ngẫm về “Cuộc đời”, ông viết:

Cuộc đời
Ôm hôn đứa con béo tròn
Hắt hủi
Bầy con gầy trơ xương


Ở trong bài “Cuộc đua”, ông chiêm nghiệm:

“Rất nhiều năm tôi mới nghĩ được điều này:
Cuộc đời mỗi chúng ta
Nhờ chạy đua với thần chết
Mà làm nên nhiều việc.

Rồi ông nhếch mép cười với “Chúng ta thích được khen”:

Chúng ta thích được khen
Nên những người khen ta vây quanh ta chật cứng
Đến nỗi những kẻ định chê ta
Chẳng bao giờ dám bén mảng…
Nặng nghĩa trọng tình.

Mảng ký sự chân dung văn học của ông không chỉ là nguồn tư liệu quý về đồng đội, đồng nghiệp một thời vào sinh ra tử, mà mỗi chân dung được dựng bằng cấu tứ như một truyện ngắn. Trong đó, xúc động nhất là những bài viết ông tái hiện hình ảnh những nhà văn đã ngã xuống trên chiến trường, mỗi người một tính cách, một số phận, một sự nghiệp….

Tập thơ mới nhất của nhà thơ Thanh Quế.
Tập thơ mới nhất của nhà thơ Thanh Quế.

Nhà thơ Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến) chính là người đã khuyên Thanh Quế thi vào Khoa Sử, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1963, rồi trở thành thầy trò của nhau khi thi sĩ quê Bến Tre dạy môn Lịch sử Văn hoá Hy - La ở khoa này. Và cũng chính từ lời khuyên và tấm gương của Ca Lê Hiến, Thanh Quế đã tiếp bước trở về miền Nam chiến đấu và sáng tác. Trong bài viết “Ca Lê Hiến tha thiết trở về quê nội”, nhà thơ Thanh Quế cho hay: “Ca Lê Hiến là một người đẹp trai, dong dỏng cao, có đôi mắt xám mơ màng và bộ tóc quăn dày rất đẹp. Anh lại lành tính, lúc nào cũng mỉm cười…”.

Với nhà văn Dương Thị Xuân Quý (Dương Thị Minh Hương), trong bài “Người con gái gầy yếu và mạnh mẽ”, nhà thơ Thanh Quế nhìn lại: “Chị không thuộc loại những cô gái thích quẩn quanh trong bốn bức tường của cuộc sống gia đình chật hẹp, yên vui và đầy đủ tiện nghi. Chị như một con chim luôn thích phóng mình trong khoảng trời cao rộng, nhưng không phải những khoảng trời bình yên. Chị luôn tìm chỗ đứng ở nơi khó khăn gian khổ”.

“Nhớ Chu Cẩm Phong trong cái rét tháng giêng”, Thanh Quế hồi tưởng: “Dạo đó, để thực hiện “mỗi ngày một nửa lon gạo”, Chu Cẩm Phong quyết định cơ quan phải phát rẫy rừng già bên kia bờ Nước Nghêu để trồng lúa. Công việc chủ yếu của phát rẫy rừng già là đốn cây to. Chu Cẩm Phong bán chiếc nhẫn mà mẹ anh gửi từ Hội An lên cho anh để mua dụng cụ sản xuất và sắm một cái rìu. Anh rất ưng ý với cái rìu mua được: nó bén và nhẹ. Anh thường ra suối vừa mài nó vừa mỉm cười: “Thế này thì cây nào không gục”.

Nhà thơ Thanh Quế cũng dành nhiều trang viết chân thực và xúc động về cá tính hơi cực đoan và tài năng của nhà văn liệt sĩ Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn): “Chắc nhiều người chưa biết con người này từng bị ho ra máu vì những năm lang thang khổ cực kiếm sống và đang giấu thầy thuốc về bệnh kiết lỵ để khỏi lỡ chuyến đi, đã vất vả trên con đường hành trình dài ngày như thế nào? Phải nói là anh đi “bằng đầu”, bằng ý chí” (Nguyễn Thi - nhà văn tôi yêu mến).

Với nhà thơ Ngọc Anh, tác giả của “Bóng cây kơnia” mà một thời gian dài bài thơ này cùng nhiều bài thơ khác của chính ông chỉ đề “phỏng dịch” dân ca Tây Nguyên khi gửi ra miền Bắc đăng báo, nhà thơ Thanh Quế viết: “Ông phải “giấu tên” để đề cao thơ các dân tộc Tây Nguyên đang chống Mỹ, mặt khác cũng phù hợp với đức tính lặng lẽ khiêm tốn của ông”.

Sâu sắc nhất, gây cho người đọc nhiều ngạc nhiên nhiều nhất là khi ông viết về tác giả bài “Cuộc chia ly màu đỏ”. Nhà thơ Nguyễn Mỹ và nhà thơ Thanh Quế cùng đồng hương huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Mặc dù đã thành danh khi còn ở Hà Nội với “Cuộc chia ly màu đỏ”, nhưng khi Nguyễn Mỹ về chiến trường Khu 5 lại không được tin dùng ở cơ quan văn nghệ, báo chí mà lại đưa ra đơn vị sản xuất và binh vận làm… ca dao. Nỗi lao đao lận đận đối với nhà thơ Nguyễn Mỹ không chỉ lúc sống mà còn theo ông đến lúc chết và mãi sau này nữa…

Những nỗi đau mà nhà thơ Nguyễn Mỹ và gia đình gánh chịu cũng là những góc khuất đầy bi kịch đè nặng lên nhiều số phận, nhiều gia đình do chiến tranh gây ra. Dù cho về sau những người còn sống có nhận ra sai lầm hoặc sửa chữa thì nỗi đau đớn ấy, như câu thơ Thanh Quế, đã: “Để lại một bể máu và nước mắt”!

Phan Hoàng

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.