Nhà thơ Tân Quảng - Mượn thơ lục bát làm thuyền

Nếu ai đã gặp nhà thơ Tân Quảng sẽ vô cùng thú vị, ấn tượng bởi mái tóc dài bồng bềnh đầy chất nghệ sĩ. Nhiều người nói ông khá giống Nhạc sĩ Văn Cao. Ông cười, gạt đi và bảo: "Đừng ví người thường với một vĩ nhân. Văn Cao là một vĩ nhân, tôi chỉ là một anh chàng làm thơ tỉnh lẻ".

Bên ngoài nhìn ông có vẻ thâm trầm, lặng lẽ nhưng ẩn sâu bên trong là một tâm hồn nhân ái, bao dung và hướng thiện. Khuôn mặt hao gầy, dáng cao mảnh khảnh, mái tóc nghệ sĩ, ông vẫn giữ nguyên được nếp sống và tính cách mộc mạc, giản dị của người Kinh Bắc xưa.

Nếu nói về thơ lục bát ở Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh, có lẽ người đầu tiên được nhắc đến là nhà thơ Tân Quảng. Không phải ngẫu nhiên mà ông có một vị trí vững chắc trong lòng bạn đọc, hành trình thơ ông là sự lao động miệt mài, cả đời thơ lênh đênh trên con thuyền lục bát, cả đời thơ hầu như chỉ sáng tác duy nhất một thể loại đó là thơ lục bát. Trên dòng sông thời gian, con thuyền thơ lục bát cứ thế trôi, chở theo tiếng lòng ông như nhịp chèo khua bên dòng sông Lục, núi Huyền, nơi có miền ký ức, có bóng tre làng, có mùi hương lúa chín và cả những nỗi niềm không thể gọi thành tên.

nhà tho tân qu-ng.jpg -1
Nhà thơ Tân Quảng.

Có lẽ chính vì vậy mà sau này ông có cả một tập thơ “Lục bát làm thuyền” để chuyên chở những điều mình muốn nói trong một hành trình thơ dài suốt gần cả cuộc đời. Lục bát với ông không chỉ là một thể thơ, nó còn là linh hồn của văn hóa Việt. Con thuyền lục bát không phải lúc nào cũng xuôi dòng, mát mái. Có lúc nó cũng chao đảo giữa những làn sóng thơ mới, thơ hiện đại, thơ tự do, thơ siêu thực. Ông như người chèo thuyền giữa sương mù, lênh đênh sóng nước nhưng không hề lạc lối, con thuyền ấy vẫn neo vào lòng người bằng vẻ đẹp mộc mạc, ngân nga như lời ru của mẹ từ thuở nằm nôi.

Một điều dễ nhận ra, giá trị làm nên thơ ông chính là sự đánh thức cái hồn quê, tình quê đầy mỹ cảm nơi ông sinh sống. Đọc thơ, dễ dàng bắt gặp hình ảnh mùa màng, cánh đồng, dòng sông, con đò, chùa chiền trong những ngôi làng cổ kính xưa kia bên dòng sông Thương, sông Cầu, sông Lục. Có thể nói, ông đích thị là nhà thơ gắn bó với đồng quê, gắn bó với những giá trị truyền thống cốt lõi để sau này ông thỏa sức thả hồn vào thiên nhiên, cây cỏ, hoa lá, chim muông và những triết lý về lẽ sống, về con người thông qua ngôn ngữ làm nên những giá trị nghệ thuật bằng thơ lục bát. Tất cả hình ảnh của những ngôi làng cổ ven sông vùng Kinh Bắc đã ngấm vào tâm hồn ông như một tình yêu bản năng giàu hình ảnh và đậm chất dân tộc.

Ông là người vui vẻ nhưng không ồn ào, thẳng tính nhưng không áp đặt. Nhiều khi buồn ông chỉ lặng lẽ ngồi bên hiên nhà nhâm nhi chén trà, ly rượu và kể chuyện bằng thơ. Chẳng bao giờ thấy ông than thân, trách phận. Mọi thứ với ông đều là hư thực, phù du. Ông bảo, cái đẹp thường mong manh, loáng một cái là nó qua đi nhanh như chớp mắt, người tài thường cô độc như những câu thơ chẳng nằm ở chốn ồn ào. Cái đẹp nằm ở sự giản dị. Nó như một bông hoa dại nở ven đường, chẳng cần chăm sóc, ngợi ca nó vẫn nở theo mùa.

Trong quan niệm của ông: “Tôi làm thơ lục bát như một sự trở về nguồn cội của dân tộc, được tắm gội trong nguồn suối thiêng liêng bất tận của thi ca…”. Sinh ra từ ca dao, tục ngữ, lời ru, thơ lục bát dễ gần, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ truyền miệng như một dòng chảy không bao giờ vơi cạn.

Thơ ông vừa hòa quyện với cảm xúc, vừa gửi gắm triết lý sống: "Cha đi bừa lúc hừng đông/ liêu xiêu dáng mẹ gánh gồng hoàng hôn"; "Cổng làng bao cuộc tiễn đưa/ có người biền biệt giờ chưa thấy về" (Cổng làng). "Chung nhau một lối đi về/ rơm vàng rối bước ngõ quê tháng mười/ rêu mờ cổng gạch tróc vôi/ có con chó đá vẫn ngồi hóng trưa"; "Ao bèo đêm ếch gọi nhau/ bờ tre con cuốc kêu đau cả chiều" (Chung nhau một lối đi về).

Những câu thơ như những lát cắt đầy cảm xúc, không chỉ gợi hình ảnh mà ở đó là chiều sâu triết lý về thời gian, con người, nơi có sự hy sinh, tảo tần, mòn mỏi của cả cha và mẹ. Người đi từ lúc hừng đông, người về tận lúc hoàng hôn gánh gồng. Cổng làng cũng là biểu tượng của quê hương, nơi chứng kiến những cuộc chia ly, có những người ra đi mà không trở lại. Thời gian làm rêu mờ, cổng gạch tróc vôi và hình ảnh con chó đá như một chứng nhân của thời gian gợi lên những triết lý sâu sắc.

Nhà thơ Tân Quảng là người hào sảng, yêu quý bạn thơ. Ông có rất nhiều bạn văn chương như nhà thơ Nguyễn Đức Mậu; họa sĩ Thành Chương; nhà điêu khắc Phạm Xuân Trường; nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh v.v… Đã có lần tôi đưa các nhà thơ Phạm Hồ Thu; Đỗ Bạch Mai; Đoàn Thị Ký; Lê Thúy Bắc lên thăm ông. Mọi người biết và đọc thơ ông trên Báo Văn nghệ; Tạp chí Thơ; Tạp chí Nhà văn và Cuộc sống của Hội Nhà văn Việt Nam. Tình bạn của những người làm thơ trân trọng nhau bằng sự ngưỡng mộ, bằng những vần thơ vang vọng, họ đọc thơ cho nhau nghe bằng sự giao hòa đầy cảm xúc. Họ ngồi bên nhau bằng sự lắng nghe, thấu hiểu.

Vài năm trở lại đây, tôi may mắn được tham gia “Nhóm bút Xương Giang” cùng ông, thi thoảng có những cuộc gặp gỡ, chia sẻ với nhau về cuộc sống, về thơ. Những buổi như vậy ông luôn là người cởi mở, chân thành, nhiệt huyết, ông nói “Thơ lục bát là ngôi nhà cũ, là vỉa than trầm tích thắp lên ngọn lửa thi ca của đương đại như một sự kế thừa” và ông đọc mấy câu thơ như rút ruột của mình: "Cũ như tục ngữ ca dao/ lời ông cha chẳng câu nào bỏ đi/ bập bùng cháy một nghĩ suy/ mới là ngọn lửa, cũ thì vỉa than".

Đúng vậy! Thơ lục bát là thể thơ cũ, cũ như ngôi nhà cũ, nhưng chính ngôi nhà ấy lại mang dáng dấp hồn quê, là trầm tích, là văn hóa cội nguồn, vừa là di sản, vừa là tài sản trong tâm thức người Việt. Cái cũ là nền móng, là triết lý sống, là đạo lý làm người. Cái mới là ngọn lửa, là khát vọng, sáng tạo, là tư duy hiện đại, cách khai thác đề tài, cách tân ngôn ngữ, kỹ thuật viết sao cho vừa giữ được hồn cốt, vừa biến hóa linh hoạt, có chiều sâu tư tưởng.

m-t s- t-p tho c-a tân qu-ng.jpg -0
Một số tập thơ của nhà thơ Tân Quảng.

Thơ lục bát Tân Quảng vừa là mạch ngầm, vừa là sóng nổi như những câu thơ: "Một mai buông bút xuôi tay/ xác trà phảng phất vơi đầy hồn sen" (Một mai); "Con thuyền lục bát thơ tôi/ mái chèo ký ức cứ bơi ngược dòng" (lục bát quê); "Ngược tìm về bến sông xưa/ lòng ta chưa tạnh cơn mưa ngày nào/ lặng nhìn gió xác xơ lau/ bờ kia cát lở làm đau bờ này"; "Mình nghèo lấy chữ làm sang/ lúc xuôi tay chọn bóng làng để chôn" (khúc cảm - 25); "Chổi tre đâu dáng lưng còng/ vắng tanh bậu cửa mẹ không còn ngồi/ sương chiều lạnh lắm mẹ ơi/ về cho con Vện vẫy đuôi nó mừng/ con ngồi nhớ mẹ rưng rưng" (Sương chiều…); "Tôi qua mấy dãy hàng cua/ cái xưa mình bán giờ mua cho mình" (Chợ làng). Bút pháp nghệ thuật trong thơ lục bát của ông thường biến hóa đa dạng, linh hoạt. Câu thơ lúc dung dị, dân dã, lúc nhuần nhuyễn cổ điển theo nhịp điệu, lúc đọng lại đầy tính triết lý về đời sống, về con người.

Nhà thơ Tân Quảng là người của những vần thơ lục bát mềm như ngọn khói bếp quê, gần đây có vẻ như ông đã buông bút và chuyển sang đắp tượng, vẽ tranh, làm bìa sách, phù điêu… Ông có thể ngồi cả ngày bên đất sét, xi măng, những thứ vô tri và thầm thì nói chuyện như một người bạn cũ. Ông đắp chân dung, phù điêu nhà thơ Anh Vũ; Trịnh Công Sơn; Bùi Giáng; Hữu Loan; Nguyễn Gia Trí; Bùi Xuân Phái... Ông bảo: "Mỗi người một nỗi riêng tư/ niềm vui thì thiếu chỉ dư nỗi buồn". Nhà điêu khắc đồng Phạm Xuân Trường bạn ông thì bảo: “Trăm khuôn mặt trăm nỗi buồn/ nỗi bi thương ấy ngọn nguồn tại ai”. Ông làm vì sở thích, niềm đam mê và đem tặng bạn bè chứ không hề vì lợi nhuận, kinh tế. Nhiều người đặt và trả tiền ông cũng không nhận.

Nhà thơ Tân Quảng bằng sự sáng tạo, trí tuệ, năng lực, trực cảm đã thành công khi vượt sóng gió trên con thuyền lục bát của mình. 

Nhà thơ Tân Quảng sinh năm 1948. Ông là hội viên, Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên, Hội VHNT tỉnh Bắc Ninh. Ông đã xuất bản 8 tập thơ: "Mưa không quá ngọ" (2004); "Bóng quê" (2007); "Lá nhú chân chim" (2009); "Buồn trong leo lẻo" (2014) "Viết rồi lại xóa" (2017); "Chiều lọt kẽ tay" (2018); "Rơm vàng rối bước ngõ quê" (2020) và "Lục bát làm thuyền" (2022) - (NXB Hội Nhà văn). Giải thưởng chính: Giải B (không có giải A) Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam. Giải thưởng Sông Thương 5 năm lần thứ 3 và thứ 4, cùng một số các giải thưởng khác.

Đinh Tiến Hải

Các tin khác

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...