Nhà thơ Phùng Khắc Bắc - hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam

Nhà thơ Phùng Khắc Bắc sinh năm 1944 ở ngoại ô thị xã Bắc Giang, đi bộ đội, sau 1975 về học Trường Viết văn Nguyễn Du, khóa 2 rồi làm công tác ở Phòng Văn hóa văn nghệ, Tổng cục Chính trị, sau chuyển sang Văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam. Phùng Khắc Bắc mất năm 1991.

Lúc còn sống, ông viết văn xuôi và âm thầm làm thơ. Sau khi ông qua đời, bạn bè mới phát hiện bản thảo thơ (hơn 100 bài và 3 trường ca), đem in trong tập “Một chấm xanh” và tập thơ đã được trao giải Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, đưa ông lên hàng những nhà thơ đương đại danh tiếng.

Theo tôi, Phùng Khắc Bắc là một hiện tượng lạ thường và độc đáo trong văn học Việt Nam sau 1975. Chỉ tới lúc ông qua đời, bạn bè và người thân mới phát hiện ra ông có làm thơ. Và, khi tập thơ của ông đến với người đọc, tức khắc chúng ta nhận ngay ra rằng ông đúng là một nhà thơ đích thực theo đúng cái nghĩa trọn vẹn của nó. Phùng Khắc Bắc có một cõi thơ rất lạ, không thể lẫn với bất kỳ người làm thơ nào khác.

Những bài thơ gần gũi, thân thuộc như quê hương nghèo khó

37 bài thơ trong tập “Một chấm xanh” rút ra trong hơn 100 bài thơ và 3 trường ca Phùng Khắc Bắc để lại, có lẽ được làm từ rất nhiều năm trước khi ông cứ lẳng lặng viết mà không hề công bố, in ấn. Thơ Phùng Khắc Bắc rất mới, cách viết gần với thơ hiện đại hơn là thơ truyền thống, nhưng không vì thế mà ông xa lạ với mọi người. Thơ ông thân thuộc, gần gũi như đất đai, xóm mạc nghèo khó quê mình:

Anh trở về làng đồi/ Con chó đá đón anh ngoài ngõ/ Cái thuở cha ông gạo tiền không có/ Nhưng lại nuôi chó đá giữ hồn/ Bởi muốn sống, muốn làm người/ nên trong khuya khoắt của giấc ngủ/ phải canh chừng lũ ma khôn/ Cái ngõ sỏi, cành rào khẳng khiu/ đã bao nhiêu lần anh trở lại/ Chó đá vẫn ngồi nguyên chỗ cũ/ Cặp mắt mở không hiền, không dữ/ Không tiếng sủa, không nguẩy đuôi mừng/ Da bụng nhăn nheo mòn tận sống lưng”.

nhà thơ phùng khắc bắc 1.jpg -1
Nhà thơ Phùng Khắc Bắc.

Nhà thơ cùng con chó đá đối thoại với nhau, cái vật vô tri vô giác mang trên mình kiếp đá lặng thinh, phải xua đuổi ma khôn, quỷ dữ để canh giữ cho cái phần hồn được yên ổn của một con người, đã thức tỉnh trong ta những câu hỏi nhọc nhằn mà chính ta phải tìm ra lời đáp: “Ta phải là ta cả phần xác lẫn phần hồn”.

Nhận xét về bạn mình, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu cho biết: “Tôi nhớ tới Phùng Khắc Bắc với dáng người gầy gò, tóc bạc sớm, làn da tím tái vì những trận sốt rét. Anh thường bị đau yếu, bệnh tật. Chắc hẳn vì thế, anh luôn linh cảm thấy cái chết đang đến với mình. Thơ tình của anh không phải là đồ trang sức, là hoa thơm mang tặng mỗi người. Nhưng, người đọc thấy anh rất sâu nặng, trân trọng tình yêu. Dường như tình yêu của anh giống như loài cây muộn mằn, phải qua nắng gắt mưa sa mới có được chùm quả chín.

Phùng Khắc Bắc viết văn và làm thơ đã lâu. Nhưng, riêng về thơ, khi còn sống, thơ anh chưa một lần in trên mặt báo. Vì thế, bạn bè đều ngạc nhiên khi trong phần di cảo của anh có một tập thơ dày dặn, chất lượng. Có thể do tính anh dè dặt, mặc cảm hoặc do anh quá thận trọng trong việc chuẩn bị cho hành trang thơ của chính mình? Viết rồi để đó, không đọc cho bạn bè nghe, không công bố, không ồn ào. Thật ít có người làm thơ nào lại im lặng trắc ẩn đến vậy. Đọc thơ Phùng Khắc Bắc, đọc kỹ, tôi vừa thương cảm, vừa vui mừng. Thương cảm vì cuộc đời anh so với đồng nghiệp cùng lứa có nhiều rủi ro, bất hạnh. Vui mừng vì anh đã gặt hái được những bài thơ hay viết về chiến tranh, về tình yêu và cuộc sống đời thường”.

Trong số những nhà thơ đương đại, có lẽ ít ai đã viết về cõi chết với những tứ thơ lạ lùng và chiêm nghiệm sâu sắc như Phùng Khắc Bắc khi ông phát hiện cõi sống và cõi chết đều có những nỗi trầm luân, bất bằng và khổ hạnh như nhau. Trong lần về thăm mộ em trai ở nghĩa địa Hà Lầm, ông cứ băn khoăn một cảm nhận: “Những chiếc bia không có mặt không có mồm/ Có chân không có tay/ Cứ đứng lặng mặc ta soi đuốc đèn đom đóm/ Những cây nhang đầu đen, nhọn/ Lửa đom đóm không thắp lại được mùi thơm/ Ta đi giữa sự công bằng ở tầng dưới/ Và sự bất công bằng ở tầng trên”.

Nhưng, hóa ra, sự cảm nhận nói trên của ông có khi không đúng khi người em ở thế giới bên kia nói với nhà thơ rằng: “Chẳng có gì đâu/ Sống chết như nhau/ Cõi này cũng có điều đáng buồn như thế/ Em cứ nghĩ xuống đây không còn nô lệ/ Ai dè ách mới còn nặng hơn/ Em đang tìm một kiếp mới hết buồn/ Để lại chết xem cuộc đời có mới/ Anh hãy sống sống dần dà đừng vội/ Bởi/ Chúng ta còn phải chết nhiều lần”. Câu thơ cuối đóng lại bài thơ như một kết cục nặng nề, nhưng lại mở ra một cửa sổ khác khi nhà thơ giúp chúng ta chiêm nghiệm lại cõi thế này ở một thế tư duy sâu sắc hơn.

Cái nhìn xuyên thấu vào bản chất sự sống và cái chết

Cõi thơ sâu lắng và giàu cảm xúc của Phùng Khắc Bắc giúp chúng ta hình dung một cách sáng rõ hơn những gì ta đang cảm nhận và thấm thía mỗi ngày trong cõi nhân gian dâu bể này. Thơ của ông đưa chúng ta đến gần với đời sống hiện thực hơn, hiểu chính bản thân chúng ta hơn. Thơ Phùng Khắc Bắc giàu sức biểu hiện. Những trạng thái xúc cảm của thơ ông có nhịp vận động riêng làm bằng chính hơi thở máu thịt của đời sống và tình yêu như ông đã khắc họa: “Cả chiếc tiểu sành đã nhiều phen rạn nứt/ Vẫn muốn được, lại một lần hóa thân qua lửa/ Để mau sống lại kiếp phù sa như cũ/ Cho ngày ngày lại có được tình yêu”.

bìa tập thơ một chấm xanh và ký họa chân dung phùng khắc bắc.jpg -0
Bìa tập thơ “Một chấm xanh” và ký họa chân dung Phùng Khắc Bắc.

Trong “Bài thơ viết riêng cho người chết”, Phùng Khắc Bắc có cái nhìn xuyên thấu vào bản chất sự sống và cái chết với ý thức nghiêng về tính nhân bản tích cực. Sức tưởng tượng kỳ lạ và mạnh mẽ của nhà thơ đã dựng nên cả một cõi âm với đầy đủ chân dung các kiểu chết, cùng với nỗi đau của mỗi người đã ngã xuống trong chiến tranh: “Một trái bom, một viên bi, một làn hơi cay ngạt, một độ nóng, một loại siêu vi trùng, một loại tế bào lạ.../ Những cánh cửa luôn khép hờ/ Không bao giờ đóng hoặc khóa/ Ai cũng được một lần mở ra/ Ai cũng sợ khi đến lượt mình phải mở/ Sau khi qua cửa làm giấy nhập cảnh vào thế giới âm/ Họ được ghi vào danh sách vĩnh hằng và được điểm lại công lao, tội tình để định lại chức danh trong xã hội mới”. Và, thật kỳ lạ, trong cái xã-hội-âm của những người chết, Phùng Khắc Bắc còn nhận ra chân dung hèn kém của những kẻ: “Ngay trong cõi âm vẫn mưu mô làm chiến tranh lần nữa”(?!).

Học cùng khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du (1983-1985) với nhà thơ Phùng Khắc Bắc, nhà thơ Nguyễn Thanh Kim nhớ lại: “Nếu tôi nhớ không nhầm, 3 năm học trong trường chỉ duy nhất một lần anh đọc thơ. Hôm đó, anh Bắc đọc bài "Xô nát nhà dột" (sau này, khi in sách đổi thành "Ngày hòa bình đầu tiên") và "Một đôi Trống Mái". Không hiểu do không khí hưng phấn của anh em đọc thơ trong buổi ấy đánh thức phần đồng cảm trong anh hay anh muốn “công bố” tâm sự của mình, tôi cũng không biết nữa! Chỉ biết rằng, hôm ấy anh đọc thơ rất hay, mỗi từ cứ vung ra như những viên sỏi cọ xiết trần trụi của vùng đồi trung du quê anh. Và, tôi thấy Phùng Khắc Bắc ướt nơi đuôi mắt vì phút “phát lộ” tình cảm ấy, biểu hiện ít thấy ở anh trong trường!”.

Trong thi pháp Phùng Khắc Bắc, cách biểu đạt qua hình thức thơ tự do đem lại cho chúng ta một cách nhìn mới qua những khái niệm và cảm xúc thật độc đáo. Theo tôi, có lẽ ông là một nhà thơ gần với đau khổ và cái chết hơn là triết lý. Tình yêu của ông có một miền đất riêng để ký thác: "Làng Đồi" - nơi ông sinh trưởng và trở đi, trở lại trong suốt cuộc đời mình để viết nên những bài thơ hay nhất của đời thơ mình.

Trong thơ Phùng Khắc Bắc, nỗi đau nhân thế qua hình ảnh quê hương thân thuộc có sức lay động, gợi cảm lặng lẽ đến da diết: “Mặt lá nhìn ngửa/ Mặt người nhìn ngang/ Mặt loài thú lang nhìn xuống/ Khi ta còn nhìn lên kính ngưỡng/ Khi ta còn cúi xuống khẩn cầu/ Ta vẫn tự tạo ra mình bằng những dáng đau.../ Nơi ấy là đất quê anh/ Dù ở đấy cây lúa cây gianh giành nhau chỗ đứng/ Hòn sỏi hòn đá chia nhau chỗ nằm/ Trong cái làng âm/ Người bốn ngàn năm/ nằm chung cùng với người chưa đủ tháng/ Trên cái làng dương/ Người người nhường nhau đất sống”.

Đọc lại thơ Phùng Khắc Bắc sau 34 năm, ta thấy nhà thơ vẫn như đang hiện diện trên thế gian này với những câu thơ đau đớn viết về chiến tranh, những câu thơ thân thuộc, gần gũi viết về quê hương. Những câu thơ bay lên và rơi ngã, làm rớm máu tâm hồn người đọc. Ngôn ngữ thơ với Phùng Khắc Bắc chỉ là phương tiện chuyển tải ý tưởng và cảm xúc với những mạch ngầm riêng của từng bài. Đọc thơ ông, ta như được tham dự vào những nỗi khổ đau và hy vọng đã làm nên gương mặt con người. Và, tôi có cảm giác, tập thơ “Một chấm xanh” là một đài kỷ niệm về Phùng Khắc Bắc ở giữa tâm hồn những người yêu mến thi ca hôm nay.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.