Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh: Ở hiền gặp lành

Phạm Ngọc Cảnh (1934 - 2014) là một tên tuổi quen biết trong làng thơ Việt Nam. Ông thuộc lớp gối kề, là cái gạch nối giữa hai thế hệ nhà thơ chống Pháp và chống Mỹ. Ông là tác giả những tập thơ có giá trị lớn về tư tưởng và nghệ thuật như “Ngọn lửa dòng sông”, “Lối vào phía Bắc”, “Đất hai vùng”, “Hương lặng”, “Nhặt lá”, “Đêm Quảng Trị”... Đó cũng là những tập thơ mang lại vinh quang cho ông khi được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.

Là người luôn trăn trở tìm cách đổi mới về thi pháp, Phạm Ngọc Cảnh luôn đau đáu, khó khăn trong việc tìm tòi ý tứ, câu chữ để tạo nên những bài thơ có tư tưởng sâu sắc và một nghệ thuật biểu hiện không dễ dãi. Thời gian đầu mới làm thơ, ông tỏ ra cầu kỳ, rắc rối trong việc hình thành một bài thơ. Càng về sau, ông đã khắc phục dần để tiếp cận được với số đông công chúng và đã thành công.

20141022105034-picture005.jpg -0
Cố nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh

Trong sự nghiệp làm thơ của mình, ông để lại hàng trăm bài thơ hay, được nhiều bạn đọc ưa thích. Riêng tôi đặc biệt thích hai bài “Sư đoàn” và “Lý ngựa ô ở hai vùng đất”. Đây cũng là hai bài thơ khiến tôi và ông trở nên quen biết rồi thân thiết, có nhiều kỷ niệm thật đẹp, khó quên.

Số là từ cuối thập niên 70 đến 90 của thế kỷ trước, tôi là giọng nam thể hiện thơ chủ chốt trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Một lần, tôi được người phụ trách buổi Tiếng thơ mời thể hiện hai bài thơ trên của Phạm Ngọc Cảnh. Tên tuổi ông tôi đã nghe, nhưng lúc đó chưa gặp mặt. Đọc kỹ hai bài, tôi thấy thật hay, đều có giọng điệu rất hào sảng, sang trọng.

Riêng bài “Lý ngựa ô ở hai vùng đất” là một bài thơ tình nhưng rất độc đáo, không có cái vẻ ướt át, lãng mạn, điệu đà thông thường dễ thấy ở mọi bài thơ tình khác mà có vẻ gì đó rất đĩnh đạc, chững chạc, đầy tự tin của chủ thể cảm xúc từng qua chiến tranh, nay trở về với dáng vẻ phong trần, oai phong thật đẹp: “Anh lớn lên vó ngựa cuốn về đâu/ Gặp câu hát bên lòng rong ruổi mãi/ Đường đánh giặc chảy xuôi về bến bãi/ Lý ngựa ô em hát đợi bên cầu”.

Bài thơ cứ gieo vào tôi cảm giác bâng khuâng thật khó tả. Khi thể hiện, tôi đã cố gắng diễn tả cảm giác tuyệt vời đó. Bài “Sư đoàn” thì đầy chất tráng ca, hoành tráng và hào sảng. Tôi phát huy hết thế mạnh chất giọng dầy, trầm hùng của mình để thể hiện bài này trên nền nhạc hiện đại với sự phụ họa của đàn piano và sáo flute: “...Này đây doi cát Cửu Long xanh, sư đoàn châu thổ/ Giữa bãi sú, rừng tràm, vụt đứng dậy sư đoàn Nam bộ/ Đón những sư đoàn mừng chiến thắng trở về rập bước ca vang...”.

Trong lúc đang tập qua cho khớp với nhạc đệm, tôi nhìn ra ngoài thấy một người đàn ông lạ mặt. Đến lúc thu xong bài thứ nhất, ra nghỉ giải lao ít phút thì người này tiến đến siết chặt tay tôi với lời cảm ơn vồn vã: “Rất cảm ơn Nguyễn Đình San. Anh đã thể hiện thật sâu sắc, đúng với tinh thần và cảm xúc của tôi. Tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe anh thể hiện bài thơ, đã khiến tôi sống lại thời khắc sáng tác bài này”. Tôi biết và quen Phạm Ngọc Cảnh từ phút ấy. Tôi cảm ơn lời ghi nhận của ông và trở vào thu tiếp bài thứ hai (Sư đoàn).

Phạm Ngọc Cảnh ngồi chăm chú lắng nghe từng tiếng, từng lời bài thơ của mình. Xong, ông lại cảm ơn và nói thêm: “Mình để ý thấy Nguyễn Đình San khi đọc bài đầu (Lý Ngựa ô...) tuy mềm mại nhưng vẫn hào sảng, không yếu đuối. Sang bài thứ hai, tuy hùng hồn, rõ chất anh hùng ca nhưng lại cũng sâu lắng chứ không ồn ào, lên gân. Mình rất thích cách thể hiện của ông”.

Rồi ông quay sang nói với cố nhà thơ Trần Mạnh Thường là người lo chương trình Tiếng thơ khi ấy: “Nếu có thể được, Trần Mạnh Thường từ nay hãy phát cái băng đọc này thay vì băng chị Trần Thị Tuyết đã ngâm”. Chẳng là trước đó, cả hai bài đều đã do các chị Trần Thị Tuyết và Linh Nhâm ngâm với nhạc cụ dân tộc. Chị Tuyết ngâm rất hay. Nhưng Phạm Ngọc Cảnh có vẻ thích lối đọc hiện đại hơn là ngâm nga kiểu truyền thống.

Sau đó, ông mời tôi ra quán uống nước, chuyện trò cởi mở. Tuy hơn tôi một giáp (12 tuổi) nhưng ông tỏ ra tôn trọng người bạn vong niên mới, luôn hô tên tôi và xưng “mình” rất thân thiện. Ngay buổi chuyện trò đầu tiên, ông đã tâm sự chân thành nhiều điều về nghề nghiệp, chuyện thơ phú, nghệ thuật. Cũng hôm đó, lần đầu tiên, tôi biết ông từng là diễn viên kịch nói Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, đã đóng vai Trung úy Phương trong vở kịch nổi tiếng có tên “Nổi gió” của Đào Hồng Cẩm mà tôi đã được xem từ nhiều năm trước. Hóa ra nhân vật chính trong vở mà tôi từng ngưỡng mộ cách diễn rất nhập vai của diễn viên lại đang ngồi trước mặt mình.

Thật thú vị. Tôi nói với ông rằng cả vở kịch và bộ phim cùng tên “Nổi gió” tôi đều đã xem, thấy nhân vật trong vở kịch do ông vào vai chính có phần gần gũi với thực tế hơn mặc dù nhân vật này trong phim đẹp trai nhưng có vẻ lính cậu, công tử quá chứ ít chất lính tráng. Nhân vật do ông đóng thật hơn, có vẻ sù sì, rất lính, gần gũi với đời hơn. Phạm Ngọc Cảnh rất tâm đắc với nhận định này của tôi và nói: “Có gì đâu. Vì đạo diễn chọn diễn viên Thế Anh đẹp trai quá, trong khi mình không đẹp như vậy”.

v copy.jpg -1
Người vợ đầu của nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh khi là diễn viên múa.

Sau đó, thi thoảng tôi và Phạm Ngọc Cảnh lại gặp nhau. Lúc đầu đến chơi với nhau ở cơ quan. Ông sống ở khu tập thể Nhà máy gỗ dán Cầu Đuống bên Gia Lâm nên chỉ thỉnh thoảng mới sang cơ quan là Tạp chí Văn nghệ quân đội ở số 4 Lý Nam Đế (Hà Nội). Ông tranh thủ rẽ đến chơi với tôi tại Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật ở 26 Điện Biên Phủ. Tôi rất quý sự hiểu biết thông thái và sâu sắc của ông về văn hóa văn nghệ, phong cách giản dị, cởi mở, hòa đồng và trùm lên tất cả là một ngọn lửa cháy bỏng niềm đam mê sáng tạo.

Rồi một ngày kia, Phạm Ngọc Cảnh mời tôi sang nhà ông ở bên Gia Lâm chơi. Tôi chứng kiến cuộc sống của ông mà cảm kích nhà thơ mình rất có thiện cảm ngay từ phút đầu tiếp xúc. Ông chăm sóc người vợ Vũ Thị Tỵ bị liệt đã trên chục năm. Hai người đến với nhau từ mối tình thật đẹp khi cùng là diễn viên Đoàn văn công quân đội. Khi ấy, ông ở Đoàn Kịch, bà là diễn viên múa ở Đoàn ca múa. Về sau, do quá say thơ mà lao vào sáng tác rồi chuyển về biên tập thơ ở Tạp chí Văn nghệ quân đội. Bà chuyển sang làm công nhân ở Nhà máy gỗ dán Cầu Đuống.

Sau lần bị tai biến, bà liệt toàn thân, mọi sinh hoạt cá nhân đều do ông trợ giúp. Hoàn cảnh không cho phép thuê người giúp việc và ông cũng muốn tự mình chăm sóc vợ. Quả là trong đời, tôi mới thấy ông là người chồng thứ hai vất vả chăm vợ nhưng rất chu đáo trong một thời gian dài. (Người nữa là nhạc sĩ Lương Ngọc Trác). Ông nói với tôi: “Khi vợ khỏe không sao, lúc bệnh tật cần đến mình thì không thể tỏ sự mệt mỏi sẽ khiến vợ suy nghĩ, buồn phiền”. Vậy nên lúc nào ông cũng vui vẻ, hài hước cho bà thấy thoải mái, nhẹ lòng.

Thời gian này, một lần ông được Trường bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du mời đến nói chuyện cho một số cây bút mới sáng tác ở các địa phương nghe. Trong số này có cô Cao Giáng Hương là một tác giả trẻ quê Thanh Hóa. Cô ngưỡng mộ thơ và tính cách của Phạm Ngọc Cảnh nên đã rủ bạn sang nhà thăm ông. Chứng kiến người vợ của ông bị liệt giường, cô rất thương cảm nên sau đó đã trở lại chăm sóc bà. Cô tắm cho bà thật khéo khiến bà ngỏ ý muốn có dịp thì Hương lại sang chơi để tắm giúp. Hương đã hứa rồi thực hiện đúng. Cử chỉ của Giáng Hương khiến nhà thơ vô cùng cảm động.

Mấy năm sau, bà Tỵ qua đời. Còn lại Phạm Ngọc Cảnh sống vò võ, cô đơn. Vợ mất được đúng 50 ngày thì ông bị tai biến rồi sức khỏe nhanh chóng suy sụp. Sau đó một thời gian, thấy tình cảnh ông quá bi đát, cô Giáng Hương đã đưa thi sĩ vào nhà mình ở Thanh Hóa để chăm sóc, nâng khăn sửa túi. Phạm Ngọc Cảnh sống những ngày cuối đời bên người vợ thứ hai hạnh phúc, êm đềm. Nhờ vậy, ông khỏe được hơn trước nhưng cũng chỉ kéo dài được thêm ít năm. Đến năm 2014, ông qua đời, hưởng thọ 80 tuổi.

Sự kết tóc của nhà thơ với Giáng Hương được mọi người đồng tình. Ai cũng thấy đó là sự gặp gỡ thật nhân văn và nói rằng nhà thơ đã ở hiền nên gặp lành. Việc Giáng Hương đến với nhà thơ ngoài sự mến phục tài năng, tính cách còn một điểm rất quan trọng, đó là cô đã chứng kiến ông rất tốt, rất có trách nhiệm với vợ trong những ngày dài bà Tỵ ốm liệt gường. Hương rất cảm phục để không một chút đắn đo khi quyết định đến với nhà thơ lúc ông đã cuối đời, lại ốm đau, bệnh tật.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...