Nhà thơ Phạm Đức: Một đời lận đận “Đơn phương”

Nếu tính từ bài thơ in đầu tiên ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1964 đến nay, nhà thơ Phạm Đức đã trải qua hơn nửa thế kỷ với sự nghiệp văn chương. Trái tim nhân hậu của nhà thơ luôn luôn “Giật mình”, ấm áp lan tỏa làm lay động tâm hồn người đọc. Cho dù chẳng một lời than vãn, nhưng cuộc đời ông quả long đong, vất vả mọi bề...

1-Chuyện vợ con

Các cụ xưa đã nói: “Tậu trâu cưới vợ làm nhà/ Trong ba thứ ấy thật là khó thay”, thì cả ba thứ ấy nhà thơ đều quay cuồng lo toan mà không xong. Trước hết, nói đến chuyện lấy vợ, làm nhà của ông thật lắm nỗi truân chuyên. Đến thăm ông tại ngôi nhà xi măng cất tạm bên sông Bùi, cách Hà Nội chừng 30 cây số, tôi thấy ông còn chưa hết bàng hoàng khi kể lại chuyện cả chục lần đi mướn nhà ở thuê, từ khi về hưu đến nay.

Thực ra ông đã từng có căn hộ để ở trong thời gian còn đương chức. Đầu tiên là ở khu tập thể Bạch Mai, nơi vợ làm việc được phân đúng 9 mét vuông, khi ông chuyển ngành ra quân năm 1975. Ròng rã 14 năm chung sống với vợ con (1973-1987) đã xảy ra lắm nỗi éo le. 

Rồi chia tay. Sau đó vợ ông đi xuất khẩu lao động bên Đức. Ông ngậm ngùi tự trách mình không bảo vệ được gia đình và hạnh phúc. Từ đó một chốn đôi nơi, ông cùng cậu con trai xin ở căn nhà tập thể của Trung ương Đoàn, nơi ông làm việc tại Nhà xuất bản Thanh Niên. Khi ấy nhà thơ đã bước sang tuổi 42.

Ấy thế rồi, mấy năm sau, cuộc tình mới ập đến. Đó là một nàng thơ cùng làm việc với ông. Nàng cũng đã qua một lần đò. Họ đã thêm một lần lên xe hoa năm 1990. Cả hai cùng bươn chải buôn bán thêm ở một cửa hàng sách ở phố Trần Hưng Đạo để kiếm kế mưu sinh. Một thời kỳ đổi mới về kinh tế đã mở ra, cuộc sống gia đình ngỡ như sẽ hạnh phúc lắm sau khi cả hai đã cùng một lần đổ vỡ. Vậy mà sau 6 năm chung sống, họ lại phải chia tay. Và cũng từ đó mà ông càng gặp nhiều rắc rối về nơi ở cho riêng mình.

2-Chuyện nhà cửa

Nhà thơ bặm môi nhớ lại sự kiện đã xảy ra như bị ma ám với mình về ngôi nhà được cơ quan phân, ở tầng 4 khu tập thể Vĩnh Phúc, quận Ba Đình. Vào năm 2004, ông đã bán ngôi nhà này để đến ở với một bà cô già yếu neo đơn trong họ tộc, với cam kết sau này sẽ được thừa kế tài sản, nhà cửa của họ. Nhưng với điều kiện nhà thơ nộp nửa số tiền đã bán nhà ở khu tập thể (khoảng 200 triệu đồng) thích ứng với diện tích nhỏ và giá cả vào năm đó. Số tiền còn lại nhà thơ chia đều cho các con và những người thân trong gia đình họ hàng. 

Vậy mà sự đời trớ trêu, sau bốn năm, thời cuộc thay đổi, giá đất tăng vọt. Lòng người cũng đầy toan tính. Hợp đồng thỏa thuận miệng trước kia vô bằng cớ, chẳng ai biết đấy là đâu. Họ đồng ý trả lại tiền mà nhà thơ đã chuyển cho họ trước đó. Một cuộc đời lang thang cơ nhỡ bắt đầu từ đó. 

Khoản tiền dành dụm được, ông mua một dúm đất ở phố Bùi Xương Trạch (Thanh Xuân - Hà Nội) lại bị vào diện quy hoạch, bị giải tỏa. Tiền mất tật mang. Phạm Đức đi thuê nhà ở lang thang đây đó từ năm 2007. Giá cả thuê nhà tăng hàng năm. Nhà thơ phải dọn nhà liên tục. Nhà thơ như bị quay cuồng với tốc độ giá cả trong muôn mặt thị trường. 

Một lần, chủ nhà đòi tăng giá, nếu không chịu được thì phải dọn đi ngay tức khắc. Nhà thơ Phạm Đức bồn chồn như phải bỏng vậy. Biết dọn đi đâu và thuê nhà sao cho kịp ngày mai. Thời gian lại đúng vào dịp Tết năm 2013. Vậy là nhà thơ gọi điện thoại đi khắp nơi, hỏi xem ai biết chỉ giùm nơi có thể thuê để ở trong mấy ngày Tết, rồi tính sau.

Một cái Tết bơ vơ chộn rộn. Tâm hồn thi sĩ bị đầy đọa khốn đốn tận cùng… May sao, có một cuộc gọi điện trong đêm của một người bạn trẻ, nhà điêu khắc Hà Huy Hiệp, ở tận xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Nhà thơ được báo là đã có chỗ ở, không phải thuê nhà nữa… Phạm Đức bồi hồi nhớ lại rồi chỉ lên nóc nhà nói, đây là ngôi nhà nơi mà chúng ta đang ngồi, do một tay họa sĩ Hiệp làm trong ba tháng mới hoàn thành. 

Nhà thơ Phạm Đức với ngôi nhà mới bên sông Bùi.
Nhà thơ Phạm Đức với ngôi nhà mới bên sông Bùi.

Còn những ngày cuối năm đó, nhà thơ Phạm Đức đã ăn Tết nhờ tại một ngôi nhà bỏ trống của nhà văn Trịnh Văn Túc (hội viên Hội Nhà văn Hà Nội), ở bên cạnh. Lại thêm một cái Tết tha hương của nhà thơ Phạm Đức nhưng ấm áp tình người nghệ sĩ. Chính vì thế mà thơ của Phạm Đức, từ khi uống nước xóm Đồng Dâu, tắm nước sông Bùi, có phần lãng mạn và say đắm hơn thời “Đơn phương”. 

Trong bài “Ru” nhà thơ viết: “Ru người bằng cả ngân hà/ Khi buồn người ngắm sao xa một dòng/ Ru người lạch suối đầu sông/ Khi sầu người ngả vào trong trẻo nguồn!...” (tập thơ “Trái tim phản biện”). Và, con sông Bùi gắn bó với nhà thơ Phạm Đức đã bốn cái Tết trôi qua. Hình ảnh con sông đã đi vào thơ ông với những nỗi niềm thân thương: “Lại thêm một dòng sông/ Đổ vào tôi muôn nỗi/ Nỗi dịu dàng, êm ả/ Nỗi cuồn cuộn biển Đông…” (Sông Bùi 2).

3-Chuyện “tậu trâu”

Ngoài chiếc xe máy còng cọc, coi như “con trâu sắt” làm công cụ cho nhà thơ đi lại, thì nhà thơ tậu được cả một “đàn trâu đất” để thưởng ngoạn. Nói một cách hài hước, việc đầu tiên trong đời một trang nam tử như ông là tậu được hơn 200 con trâu, làm từ các chất liệu khác nhau. 

Có lần ông tâm sự rằng, thơ và đàn trâu đã an ủi và vỗ về tâm hồn ông trong những đêm cô đơn nhất. Ông tuổi gà (sinh năm 1945-Ất Dậu) nhưng lại có thú sưu tầm các con trâu do các nghệ nhân làm từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Nghĩa là đã 25 năm nay. Trong quãng đời lang thang cơ nhỡ, ông đều mang chúng theo và được chăm nom cẩn thận.

Mỗi con trâu là một câu chuyện và kỷ niệm đáng yêu trong cuộc đời. Ông đã mang cả đàn trâu về bày quanh ngôi nhà sông Bùi. Có lần bị mưa lũ, nước dâng lên tràn vào nhà, ông vội vã từ xa trở về lội bì bõm trong gió mưa và nước ngập đến ngang lưng để “cứu” lấy đàn trâu của mình. Đó chính là những đứa con tinh thần cuối cùng đã an ủi ông, mỗi khi cô quạnh. 

Ông rưng rưng ngắm một con trâu đất rồi đọc: “Sau những chuyến chuyển nhà gấp gáp/ Tới nơi này, sang nơi khác/ Có mấy con trâu gãy sừng/ Trong lòng tôi một nỗi đau nhọn hoắt/ Như sừng trâu/ Không ai nhìn thấy/ Vết thương rỉ máu/ Ứa như lệ già” (Sừng trâu). Một cơn sóng chợt ập đến trên sông Bùi. Nhà thơ đứng lặng nghe âm thanh vỗ ì oạp vỗ trên bãi cỏ xanh non. 

4-“Đèn đỏ”

Nhà thơ Phạm Đức từ lâu đã nổi tiếng với những bài thơ tình như “Đơn phương”, “Ví dầu”, “Thì anh lại sợ”… Những người yêu thơ đều nhớ đến những câu: “Gần nhau mà chẳng yêu cùng/ Đơn phương tôi cứ thủy chung một mình”. Vậy mà, trong tập thơ mới “Trái tim phản biện” (NXB Hội Nhà văn, 2016), tôi nghe như ông đã có những trăn trở bất ngờ, qua những tháng ngày lận đận. 

Nhà thơ viết: “Ngón tay đã buông/ Gót chân đã ngoắt/ Mái đầu không ngoảnh lại/ Trái tim còn cãi/ Sao lại thành lối rẽ?/ Sao lại là cắt chia?...”. Đó chính là nỗi niềm lắng sâu khi: “Nhịp trái tim phản biện/ Cay đắng và âm thầm/ Mặc bàn tay nhạt nhẽo/ Mặc bước chân ơ thờ…” (bài “Trái tim phản biện”). Có lẽ nơi ngọn nguồn cảm xúc từ con sông Bùi đã khơi thêm cho Phạm Đức một mạch thơ mới, mạnh mẽ hơn và bật lên những cung bậc ghồ ghề hơn trước, tạo nên mỹ cảm nơi góc cạnh tâm hồn.

Tôi bỗng giở tới trang 84 của tập thơ, dừng lại với bài “Đèn đỏ” và giật mình với những câu thơ: “Trên đường lòng/ Tự tôi/ Đôi khi/ Bật/ Đèn đỏ/ Để/ Thanh thản/ Dừng”. Đã có một Phạm Đức khác trong thơ. Tôi chia tay sông Bùi với hình ảnh của một ông đồ tư lự với chiếc cần câu trên con thuyền độc mộc. Nhà thơ ngâm nga rằng: “Như là tình ái/ Như là cổ xưa/ Một chiều bất chợt/ Như vừa hôm qua” (Một chiều). Đó chính là tín hiệu đèn đỏ đã bật lên để nhà thơ dừng lại chờ rẽ sang một con đường mới.

Vương Tâm

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.