Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh với nàng Tô Thị của thời “siêu thị”

Hôm mới rồi lên chơi Thái Nguyên cùng các nhà văn Chu Văn Sơn, Văn Giá, Hoàng Xuân Tuyền, chúng tôi ghé thăm nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Thái Nguyên. Theo cảm nhận của tôi, trong số các nhà thơ nữ đang có những tìm tòi được dư luận thi ca ghi nhận gần đây, Nguyễn Thúy Quỳnh là một gương mặt thơ đáng chú ý với những chuyển động mới của thi ca hiện đại. 

Nguyễn Thuý Quỳnh, sinh năm 1968, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Đại học Nông lâm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, từng là giáo viên, cán bộ Đoàn, hiện là Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Thái Nguyên, Tổng Biên tập Báo Văn nghệ Thái Nguyên. Đã xuất bản 2 tập thơ: “Giá mà em từ chối” (2002), “Mưa mùa đông” (2004). Giải thưởng: Giải B về thơ năm 2004 của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam; Giải 3 cuộc thi thơ 2003-2004 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Trong hành trình thơ đầy khó khăn những năm tháng này, có một số nhà thơ đã thành công khi phát hiện và xác lập được một điệu-tâm- hồn mới, nó mang lại cho các bài thơ của họ một hơi thở sống động hơn trước, một tầm nhìn có chiều sâu tư duy hơn trước mà bài “Thơ về lạc đà” của nữ nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh là một dẫn chứng:

Trời hoang hoang nắng
Cát mêng mang trắng
Lạc đà thầm lặng
                                   đi

Không chỉ sinh ra để mang những gì người ta chất lên
còn mang cả chính mình
những chiếc bướu như tiền kiếp úp xuống lưng
thế mà những dấu chân
không để lại hình hài trên sa mạc

Không thể nói gì về sự còn mất
với những đám xương rồng vô tâm

Lớn hơn nỗi cô đơn
là nhận ra không ai có thể mang gánh nặng hộ mình
lỡ một mai kiệt sức
Trên cả sự chịu đựng
những bàn chân lầm lũi bước
còn xa lắm cái ngày kết thúc

Những bước chân xoáy ngược chiều bão cát
khúc trường- ca- độc- hành

Cát mênh mông trắng,
lạc đà ngửa mặt
                                đi, và đi...

Nhưng cũng với những tìm tòi giống Nguyễn Thúy Quỳnh như trên, có một số tác giả khác trong các bước chuyển động làm mới thơ, họ lại trở nên thực sự nghèo nàn hơn trước (về mặt khắc họa đời sống) và đơn điệu hơn trước (về mặt biểu cảm ngôn ngữ).

Vậy phải chăng, sự khác biệt này là do phẩm chất tài năng của mỗi người thơ khi hướng đến những tìm tòi để có thể làm thay đổi giọng điệu, thi pháp của mình. Và dường như điều này ta có thể bắt gặp trong một số bài thơ gần đây của Nguyễn Thúy Quỳnh khi chị tự sự về tình yêu của mình với một giọng thơ dồn nén những trải nghiệm xa xót gửi một nàng Tô Thị của thời siêu thị đang hóa đá hôm nay: “Giá những con sóng đừng gọi tôi đến đây/ để tình cờ gặp chị/ hiền lành và nhẫn nại nhường kia/ nàng Tô Thị của thời siêu thị/ Giá những cơn gió đừng mang đến tôi/ những lời rất mực đàn bà kia/ để tôi tin mình đàn bà hơn chị/ trong tay anh/ người đàn ông đầu tuần hôn con, cuối tuần hôn vợ/ giữa tuần hôn người tình./ Giá chị đừng hiền lành đừng nhẫn nại đừng cả tin thế kia/để sóng với gió không cuốn đi niềm kiêu hãnh lừng lững trong tôi/ Tình yêu nào có lỗi gì/ anh bảo thế và tôi tin thế/ lúc ấy nồng nàn nào ai nghĩ/ có một nàng Tô thị thứ bảy nào cũng bật nước nóng đợi chồng/ Chị ơi…/ xin chị cứ vọng phu, chỉ trái tim đừng mỏi mòn nhịp cũ/ trái tim hãy hát lên gọi anh về/ Tôi gửi chị lạy này/ rồi hoá đá mà đi”.

Tôi nghĩ đây là một tứ thơ khá hay và độc đáo của Nguyễn Thúy Quỳnh khi chị phát hiện và khắc họa được nỗi đau không dễ nói ra, không dễ chia sẻ, không dễ cảm thông của “Nàng Tô Thị trong thời Siêu thị”. Và đây có lẽ là thế mạnh của một nữ-tính-thơ đang có các tìm tòi, khai mở về phía những vỉa tầng đời sống đầy ắp nỗi đau chịu đựng trầm cảm và những bi kịch đau khổ, éo le của con người thời hiện đại.

Trong bài thơ “Viết cho người say” (được trao giải ba cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2003-2004), Nguyễn Thúy Quỳnh thực sự đã tìm được một cách biểu đạt khá rung động trong tâm sự của người vợ đã phải nén chịu qua nhiều cơn say của chồng:

Nhưng anh biết không
trái tim em vốn bé nhỏ và trung thành
lại một đêm lang thang
kiếm tìm những gì anh bỏ lại trong cơn say
con đường mưa còn in vết trượt
những hàng cây lắc lư đồng loã
ánh lửa ma trơi trong căn nhà lạ
bầu trời thẳm sâu
Điều này anh biết không
em, vốn yếu ớt và quen phục tùng
có thể gột rửa những vết nhơ trên quần áo và thân thể anh
nhưng không thể gột rửa sự trống rỗng trong em
kết một quầng đen nhức nhối
Em hoảng hốt nghĩ về một ngày chẳng ai có lỗi
khi hạnh phúc ngả nghiêng dưới mái ấm nhà mình

Bài thơ lắng lại như một sự chia sẻ ấm tình người, nhưng cũng âm thầm xa xót khi đời sống gia đình đang hằn lên những rạn nứt. Trong không ít bài thơ của mình, Nguyễn Thuý Quỳnh thuờng tìm lại những âm hưởng giàu chất tự sự và lãng mạn nữ tính, những khi ấy, thơ chị nghiêng về phía tiếng nói của cảm xúc hơn là tìm đến những suy tưởng thơ có sức khái quát mới như bài thơ “Đồng hành” của chị dưới đây:

Bỗng dưng kẻ cô độc là tôi nhận ra người đồng hành là chị
áo mưa cũ, dép nhựa cũ, xe đạp cũ
mặt nhễ nhại nước
những bắp cải su hào xô người về đằng trước

chúng tôi đi bên nhau
mưa hắt từng quầng giá buốt

phố sớm nay trên trời dưới hoa
như thể người ta trồng hoa một năm dùng cho một ngày
hai bên đường, hoa và người so nhan sắc với nhau
chúng tôi trôi ở giữa

không làm quen nhau
vẫn thấy mưa ấm hơn trên má người đồng hành
và biết
có những người đàn bà chở bắp cải su hào phía trước
có những người đàn bà chở nỗi cô độc đằng sau
đường sao mà dài…

cứ thế
chúng tôi đi qua những phố đầy hoa.

Trên một bình diện khác, đổi mới thơ là cả một hành trình lớn lao đầy gian truân và thử thách. Vì thế, tôi có cảm giác hành trình khắc nghiệt này không hợp với “tạng” thơ giàu nội hàm tâm sự của chị. Dường như Nguyễn Thuý Quỳnh cũng nhận ra điều này và trong một chừng mực nào đó, chị vẫn đang cố gắng vượt lên những biểu cảm cũ mòn của chính thơ mình trước đây mà bài thơ “Đàn bà” là một ví dụ:

Trời tối rồi
đường dài lắm
đi một mình không hết
di động run lên từng hồi thúc giục,
không thèm nhìn bụi xấu hổ lẳng lặng khép mi
ta hăm hở xa...

Sao di động không nói với ta
là người đã quay về
nơi sóng hát những lời tiên cá
rong rêu hồ Tây có giống rong rêu biển cả?
may còn nhặt đáy hồ chiếc bóng người bỏ lại làm tin.
Bóng có thương thì đắp cho ta qua đêm,
sớm mai ta đem bóng về non
đắp qua năm qua tháng.

Chợt có bàn tay chìa ra đòi lại
chị ấy ôm bóng vào lòng vừa đi vừa hôn

Đành vậy, người ạ
ta lại chậm chân rồi
người có còn chiếc bóng nào không?

Vẫn một giọng điệu dồn nén tâm sự và mong muốn được chia sẻ, nhưng những chuyển động của ngôn ngữ thơ đã bắt đầu khác trước, nó đang tìm đến một-cửa-sổ- mới, một điệu-tâm-hồn mới. Trong những cố gắng làm mới thơ hiện nay, có một số tác giả đang chuyển hướng thơ mình vào việc khắc hoạ, ghi nhận các nỗi niềm tâm trạng đang còn khuất lấp trong đời sống tâm hồn con người đương đại để khai phá những miền cảm xúc mới.

Theo tôi, một trong những nhà thơ nữ đang có bước chuyển tìm đến một cửa-sổ-mới, một tố-chất-mới của thơ nữ chính là Nguyễn Thuý Quỳnh. Và bài thơ “Về một con mèo bị xe cán” dưới đây cho thấy trái tim thi sĩ của chị vẫn luôn trăn trở, luôn bất an, luôn thao thức hướng về đời sống thực tại hôm nay: “Có phải cơn mưa đêm/ hay xe rửa đường sớm nay/ đã xóa sạch hình hài của nó?/ Xóa sạch cái hình hài bé nhỏ nát bấy chiều qua/ đủ để nhận ra nó vừa là một con mèo/ chắc mới vài tháng tuổi/ Giữa bầy nhầy máu/ sót lại một vạt lông trắng mịn/ làm tôi toát lạnh cả ngày/ có lẽ nó xinh lắm/ Nó bé bỏng và thanh khiết thế/ ra ngã năm làm gì/ để chết tức tưởi dưới một bánh xe vô cảm/ chết thêm hàng vạn lần dưới những vòng xe vô tình/ và bây giờ/ biến mất trên đời như chưa từng xuất hiện/ Thế giới loài người/ mỗi ngày dưới những bánh xe/ lại biến mất hàng nghìn sinh mạng/ như không/ Nên trong con số thống kê của lực lượng chức năng hôm nay/ không có nó/ Nhưng tôi tin thế giới loài mèo/ Đang lặng câm khóc”.

Tôi rất ấn tượng với nhận xét khá sâu sắc của nhà phê bình Chu Văn Sơn về nội hàm mới của thơ Nguyễn Thúy Quỳnh hôm nay khi anh cho rằng: “Chưa bao giờ nỗi bất an về thực tại người chịu buông tha thơ. Nhưng, chưa khi nào nó khiến thơ trầm cảm như thế trong lát cắt hiện thời. Đến nỗi, có thể coi niềm thơ của thời đại này chính là Nỗi Bất An đó. Mỗi hồn thơ một bất an riêng, mỗi người thơ một nỗ lực hóa giải riêng. Đã gùi gắng chu toàn mọi bề cho đến cả những chăm chút bé mọn nhất, mà lòng vẫn chưa thanh thỏa, vẫn chả hết lo âu. Thơ vẫn đầy tân toan nỗi mình, nỗi đời.

Đó là nỗ lực Nguyễn Thúy Quỳnh chăng? Chắt tâm tư vào ý. Rũ bớt phấn hoa cho lời. Gia tăng tượng trưng cho hình. Giảm thiểu nồng nã cho giọng. Thơ mộc mà vẫn phiêu. Đó là cách thơ Nguyễn Thúy Quỳnh chăng?”. 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.