Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim: Một tôi lặn lội, một tôi kiếm tìm

Thoạt nhìn, nhà thơ Nguyễn Thanh Kim khá trầm ẩn, ít gây chú ý với người đối diện bởi cái mã bên ngoài thênh thếch cũ của mình, khác xa những gì người đời vẫn nghĩ về nghệ sĩ, hoặc là xù xì lập dị hoặc là kẻ cả khoa trương, hay át vía thiên hạ bằng chất lãng tử hào hoa.

Nhưng khi bập vào văn chương, thường sau vài ba chén rượu, thì cái vẻ nhẫn lành đến lặng lẽ vẫn thấy ở Nguyễn Thanh Kim bỗng chốc không còn chỗ trú ngụ, thay vào đấy là sự sắc sảo, tinh tế trong cảm xúc và năng lượng ngẫu hứng nghệ sĩ. 

Con người nhà thơ trong ông bấy giờ mới vỡ ra chân thật và hồn nhiên, thoát hẳn vẻ khiêm cung, nhẫn chịu ngày thường: "Nhiều khi ta tự bóc mình như bóc một trái cam/ chợt ngọt đầu môi mà se se đắng". Ấy là sự tự dấn thân có chủ đích của Nguyễn Thanh Kim trong hành trình tìm kiếm, ký thác thân phận mình, gửi gắm những nỗi niềm trăn trở, những đắng đau được mất qua con chữ.

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim
Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim

Một người dám tự bóc mình ra, dám bóc mẽ mọi thứ đến tận đáy bản chất, để thực chứng và lĩnh hội nỗi đắng đau của số phận, đủ thấy ở ông sự cả quyết với nghề nghiệp. Sự cả quyết này của Nguyễn Thanh Kim, nhà văn Đỗ Chu đã xác nhận: "Người khác, nếu gặp khó khăn, sẽ tức khắc bỏ nghề, hoặc rẽ nghề. Nhưng Kim, đói, nó vẫn viết!". 

Trong hành trình kiên tâm giãy bày lòng mình bằng thơ, ông chỉ mong: "Khát vọng chân trời vời vợi/ chẳng bao giờ là điều viển vông/ Biết bao mùa hoa trong nỗi chờ mong/ cứ lắng lại ngọt ngào chất mật". Tâm thế và cả nhãn quan, Nguyễn Thanh Kim cũng đã lựa chọn: "Một tôi lặn lội, một tôi kiếm tìm". Ông đi tìm lý do để sống hữu ích, tìm sự thiêng liêng đền đài để phụng vụ và tìm người tri âm để thơ ông có thể neo lại, giãi bày ẩn ức.

Cả quyết lặn lội tìm kiếm là vậy, nhưng đôi lúc Nguyễn Thanh Kim cũng không tránh khỏi sự hoài nghi: "Anh đi về phía không em/ Phía trời xa có ngọn đèn ngóng trông/ Ngô đồng ơi hỡi ngô đồng/ Mỏng như câu hát bềnh bồng cõi anh". Bởi ở cuối con đường xa tít tắp ấy, cái con đường mà ông tự thể nghiệm bằng "bóc mình như bóc một trái cam", không biết chừng cũng chỉ "mỏng như câu hát" và "em" thì không một ai có thể bảo đảm rằng, "em" sẽ ở đấy, sẽ đáp đền tình yêu của ông. Câu thơ vì thế khẽ ngân niềm tự cảm thương đến đắng lòng.

Nguyễn Thanh Kim làm thơ như một nhu cầu tự thân cần được giải tỏa, tự giăng mắc nỗi mình trong nỗi người. Ông viết chân dung văn học để tìm nỗi người trong nỗi mình. Thì đây, cách Nguyễn Thanh Kim tự tìm nỗi người trong nỗi mình qua chân dung nhà thơ Hoàng Cầm, khi viết: "Cái ấn tượng ban đầu về Hoàng Cầm vẫn là những câu thơ mở đầu trong bài thơ Bên kia sông Đuống bám riết tâm trí tôi thuở nào". 

Ông còn nhận ra cái làm cho thơ Hoàng Cầm trở nên đặc sắc, chính là yếu tố nữ (Hoàng Cầm tự nhận là ông theo dòng mẫu hệ: Tôi theo dòng mẫu hệ/ Cứ miên man lạc đường), với những mẹ - những chị - những em, những cầu Bà Sấm - bến Cô Mưa, những nắng hồng hoang ràng rịt tỏ mờ trong mê giác. Thơ Hoàng Cầm do đó vừa đậm mầu huyền sử, vừa gần gũi chân thực, vừa mở rộng trường liên tưởng nên người đọc khó nắm bắt trọn vẹn ngữ nghĩa mà ông đã tạo ra, buộc người đọc phải ngẫm ngợi và suy tưởng miên man về một vùng quê, một vùng văn hóa đằm sâu Kinh Bắc. 

Ở chân dung nhà văn Nguyên Hồng, Nguyễn Thanh Kim khéo léo dẫn lời nhà văn Kim Lân, gián tiếp nói lên suy nghĩ của mình: "Bài thơ này (Về Hải Phòng nhớ nhà văn Nguyên Hồng), Kim làm sống lại cái thần của nhà văn. Tính Nguyên Hồng là vậy, quyết liệt và có thái độ lắm: Đã ghét ghét cay đắng/ đã yêu yêu hết lòng/ trái tim ông run rẩy/ nước mắt ông lưng tròng". 

Theo mạch văn đó, ông viết tiếp về Kim Lân, tác giả của "Vợ nhặt": "Khi đọc tác phẩm của nhà văn Kim Lân ngẫm lại tôi thấy ông cũng có phẩm chất như Nguyên Hồng, nghĩa là ông rất dị ứng với cái nhạt, cái giả trong văn chương. Ông viết ít do ông nhận thức rất sâu sắc về nghiệp văn đầy rủi ro và bất trắc, cái tài đến với nhà văn rất tự nhiên, mất đi cũng rất tự nhiên". 

Nguyễn Thanh Kim nghiệm rằng, tuy viết ít nhưng trong đời nhà văn Kim Lân, ông cũng từng có lúc tận hưởng cái giờ phút yên bình nhất khi hóa thân vào nhân vật do mình tạo ra: "Từ phút ấy, ông mới thấy mình thật sống, mình thật là mình, yên ổn thoải mái. Một nỗi vui phấn chấn tràn vào đầy ngập trong người. Cứ thế ông đứng lặng trong bóng chiều, chìm đắm trong những tiếng xao động từ mặt đất bay lên quấn quýt, bao quanh lấy ông, tận hưởng cái giờ phút yên bình nhất của một ngày gác máy bay căng thẳng trên ngọn núi Côi Kê này".

Trong nghiệp thơ, Nguyễn Thanh Kim rất chú trọng đến giọng điệu riêng, cần mẫn tạo cá tính cho thơ. Cũng vậy, trong viết chân dung văn học, ông luôn cố gắng lẫy cho được cái tài hoa cùng tính cách của mỗi người viết. 

"Thơ Bằng Việt đậm chất hào hoa phong nhã, có giọng điệu tinh tế, giàu tư duy trí tuệ. Mỗi chặng thơ Bằng Việt đều gắn nhuần nhuyễn dấu vết cá nhân thi sĩ và đời sống khách thể một cách nhất quán nhưng sự vượt trội chưa nhiều. Bằng Việt không làm dáng, kỳ khu trong câu chữ, tinh tế trong giọng điệu, ẩn giấu triết lý nên thơ anh dễ vào bạn đọc", Nguyễn Thanh Kim chẳng những tinh tế trong nhận xét, mà còn có những đánh giá xác đáng về nhà thơ Trinh Đường, tác giả câu thơ "Quê Trương Chi hòn đất cũng đa tình": "Thơ Trinh Đường trải ra theo chiều dài đất nước và chiều sâu tâm trạng của ông. Xúc cảm dư thừa nhưng ý tưởng chưa đậm. Cũng như nhiều nhà thơ thời kỳ ấy, thơ Trinh Đường vẫn mang nặng phần mô tả đời sống, chưa khai thác những tầng vỉa của chiều sâu đời sống. Nhưng đến tập thơ Trò chơi phù thế, ông đã dồn hết tâm lực cho lần phát sáng cuối cùng này những điều ông từng trải nghiệm, chiêm nghiệm về cõi sống, cõi phù sinh. Cả cuộc đời Trinh Đường trong hành trình thơ là sự tự vượt lên mình, không bằng lòng với mình", cũng như nhận ra tài thơ, tài họa của Hoàng Hữu, tác giả bài thơ Hai nửa vầng trăng đoạt giải Nhì cuộc thi Thơ của Báo Văn nghệ năm 1981 - 1982: "Thơ và tranh Hoàng Hữu kết hợp cái mong manh trong nhòe lẫn sương khói, biên độ hình và nét không rõ rệt, chữ và nghĩa thì đậm sương. Nhưng ẩn sau những dòng chữ, những đường nét và sắc màu đó thì hồn anh rõ lắm, tinh tế đằm thắm khiến ai đọc thơ và xem tranh anh thì thật khó quên". 

Tương tự, ông đã vẽ được chân dung chính xác của nhà thơ Phan Xuân Hạt: "Thơ Phan Xuân Hạt thường thông qua hiện thực mà gửi gắm những triết lý suy ngẫm về con người, cuộc đời. Thủ thỉ, tâm tình, dung dị, dễ hiểu mà nâng cao là tạng thơ anh. Thơ Phan Xuân Hạt không chói sáng mà len lách, thấm đậm, như một thứ duyên thầm, không quá thô mộc mà lắng đọng, bền lâu. Anh không nệ câu, nệ chữ mà chú tâm đến cái tứ toàn bài, hướng đến ý tưởng mà anh dày công chiêm nghiệm".

Qua những chân dung văn học của mình, Nguyễn Thanh Kim đã phác họa ra đời sống xã hội - đời sống văn học một thời, bên cạnh việc cung cấp cho độc giả những tư liệu sinh động về các văn nghệ sĩ gồm Xuân Diệu, Tế Hanh, Đỗ Chu, Thu Bồn, Vũ Từ Trang, v.v. Mỗi người một vẻ, một nỗ lực tìm kiếm bản sắc riêng, nhưng tựu trung, họ đều góp phần tạo nên diện mạo nền văn học nước nhà. 

Qua việc viết chân dung văn học, ông còn rút ra được những bài học từ các văn tài này để thừa hưởng, để lựa chọn cho mình con đường văn chương đầy gian nan và không có lấy gì làm bảo đảm. 

Trong số những bài học mà Nguyễn Thanh Kim đã rút ra, có bài học sâu sắc từ nhà văn Nguyên Hồng, là luyện thơ như luyện võ: "Nhà văn Nguyên Hồng có lần tâm sự: Mỗi người làm thơ phải luyện cho mình một ngón độc, độc nhất vô nhị. Trình Giảo Kim ngón độc là búa. Lý Nguyên Bá có cặp chùy đồng, v.v. Ra trận, đối phương nghe thấy khiếp vía, vào trận chỉ có bỏ mạng. Chữ thì phải có hồn chữ, phần máu thịt nhất của nhà thơ hiện lên trên trang giấy. Chữ nghĩa run rẩy, phập phồng tươi mới như sự sống, nếu không chỉ là các chữ vô hồn, thứ chữ ép thì chẳng làm rung động được ai. Chỉ có điều khác là luyện võ thù dùng để đánh người hay tự vệ, còn luyện thơ là thứ nghệ thuật đánh vào lòng người, nhưng trong ý hướng nâng đỡ".

Triều Ka

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.